Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 39: Chương Mười Ba- Phẩm Mười Ba Bài Kệ - Phần 8 (trang 266-272)

phục nên bắt đầu phỉ báng, mạ lỵ hai vị Trưởng lão:
  - Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thật tràn đầy ác dục, trước kia đã không nhận các lễ vật cúng dường, nhưng nay lại nhận hết. Chẳng có gì làm thỏa mãn hai vị này cả. Các vị không thương tưởng đến kẻ khác.
  Nhưng hai vị Trưởng lão nhận thấy ông đang nuôi ác tâm đối với mình nên các vị cùng đám đồ chúng ra đi, các vị cũng không muốn trở lại dù dân chúng van nài các vị hãy ở lại thêm vài ngày nữa. Lúc ấy, một vị Tỷ-kheo trẻ hỏi:
  - Hai vị Trưởng lão sẽ không ở lại đây đâu, này các cư sĩ. Vị Tỷ-kheo khó tính của các ông không muốn các ngài ở lại đây.
 Sau đó, dân  chúng đi đến gặp Tỷ-kheo Kokālika và hỏi:
-    Thưa Tôn giả chúng con được nghe nói Tôn giả không muốn hai vị Trưởng lão ở lại đây. Xin hãy đi ngay hoặc là khuyên  giải các ngài và đưa các ngài trở lại đây, hoặc là Tôn giả cũng đi tìm  chỗ khác mà ở.
   Vì sợ dân chúng, vị này đi thỉnh cầu các Trưởng lão. Cácvị đáp:
    -   Này Hiền hữu, hãy đi về! Chúng ta không trở lại đâu.
   Thế là ông không thể thuyết phục hai vị, phải trở về tinh xá. Sau đó, các cư sĩ hỏi ông các Trưởng lão có trở lại nữa không. Ông đáp:
  -  Ta không thể thuyết phục các ngài trở lại được.
  -  Tại sao không, thưa Tôn giả?
Và họ bắt đầu suy nghĩ chắc hẳn không có thiện Tỷ-kheo nào muốn ở đó nữa vì người này sống theo tà hạnh, và họ phải tống xuất ông đi. Họ liền bảo:
- Thưa Tôn giả, xin đừng ở lại đây, chúng con chẳng cung cấp gì cho Tôn giả nữa đâu.
 Bị hội chúng làm ô nhục như vậy, vị ấy cầm bình bát , đắp y và đi đến Kỳ Viên. Sau khi đảnh lễ bậc Đạo $ư, ông nói:
- Bạch Thế Tôn, các Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền- liên tràn đầy ác dục, hại vị đang bị ác dục chế ngự.
Bậc Đạo sư đáp:
-  Này Kokālika, đừng nói vậy; này Kokālika, ông hãy có từ tâm đối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền- liên, phải biết rằng đó là các thiện Tỷ-kheo.
Kokālika nói:
-  Bạch Thế Tôn, Thế Tôn tin tưởng hai vị Đại đệ tử của Thế Tôn, còn con thấy tận mắt hai vị đang có ác dục, hai vị có những việc riêng tư trong
lòng hai vị ấy là các ác nhân.
      Người ấy nói như vậy ba lần (mặc dù bậc Đạo sư đã ngăn cản), rồi đứng dậy ra đi. Ngay khi đang đi trên đường, khắp thân thể ông mọc lên các mụt nhọt bằng hạt cải, sau lớn dần bằng hạt cây vilva chín muồi, vỡ ra, máu chảy khắp người. Ông rên rỉ ngã xuống bên cổng ở tinh xá Kỳ Viên, đau đớn điên cuồng. Bỗng có tiếng kêu lớn vang dội đến cõi trời Phạm thiên:
   -   Kokālika đã phỉ báng hai vị Đại đệ tử.
   Rồi một vị Phạm thiên tên là Tudu, biết được chuyện này, xuất hiện với ý định hòa giải các Tỷ-kheo, liền bảo trong lúc đứng vững trên không:
   -   Này Kokālika, ông đã làm một việc ác, vậy hãy đi giảng hòa với hai vị Đại đệ tử.
Người ấy hỏi:
   -   Hiền hữu là ai thế?
Vị thần kia đáp:
  -T  a là Phạm thiên Tudu.
 Người này lại bảo:
 -  Ngài đã chẳng được đức Thế Tôn tuyên bố ngài là một vị Bất Lai đó sao? Chữ ấy có nghĩa là một vị không trở lại đời này nữa. Ngài sẽ trở thành một con quỷ trên đống phân đấy .
Ông lại mạ lỵ vị Đại Phạm thiên như vậy.Vì không thể thuyết phục người ấy theo lời khuyên của mình, vị Phạm thiên đáp:
  - Ông sẽ bị hành hạ theo khẩu nghiệp của ông.
   Sau đó, vị Thiên thần ấy trở về cõi an lạc của ngài.Còn Kokālika chết đi liền tái sinh vào địa ngục Hoa Sen. Việc người này được tái sinh tại đó được vị Đại Phạm thiên chủ đầy oai thần Sahampati (Ta-bà chủ) trình đức Như Lai và bậc Đạo sư kể lại cho các Tỷ-kheo. Trong Chánh pháp đường, Tăng chúng bàn luận về ác tâm của các người ấy:
  -   Này Hiền hữu, Kokālika đã phỉ báng Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên, và vì lời nói phát xuất từ chính miệng kia mà vị ấy đã đọa xuống địa ngục Liên Hoa.
 Bậc Đạo sư bước vào và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đang nói chuyện gì trong lúc ngồi đây? Tăng chúng trình Ngài. Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Kokālika bị hủy
hoại vì chính khẩu nghiệp và bởi chính do miệng mình nên phải đày đọa khổ sở mà trước kia cũng vậy.
Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                          *
     Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, vị Tế sư của vua có màu da ngăm ngăm đen và mất hết cả hàm răng. Bà vợ của ông thông gian với một vị Bà-la-môn khác. Vị sau này cũng giống như vị trước. Nhiều lần vị Tế sư cố tìm cách ngăn cản vợ mình, nhưng không thể được. Rồi ông suy nghĩ: "Đây là kẻ thù của ta, ta không thể chính tay giết được, mà ta phải lập mưu kế giết nó đi.”
     Thế là ông đến yết kiến vua và tâu:
      -    Tâu Đại vương, kinh thành của Đại Vương là kinh thành trọng yếu nhất trong toàn cõi Diêm-phù-đề. Đại vương là vị vua cao trọng bậc nhất, nhưng dù Đại vương là vị vua thủ lãnh, hoàng môn phía nam của Đại vương lại có điềm xấu, nó được xây theo kiểu xui xẻo.
     -    Được rồi, này quốc sư, ta phải làm gì?
     -    Xin Đại vương đem may mắn cho nó và chỉnh trang nó.
     -    Vậy phải làm gì đây?
     -    Ta phải hạ cổng cũ xuống, lấy loại gỗ mới có dấu hiệu may mắn, lập tế đàn cúng các vị thần canh giữ hoàng thành rồi xây hoàng môn theo cách kết hợp tốt lành của các vì sao.
     -    Thế khanh hãy làm như vậy.
    Vào thời ấy, Bồ-tát là một trang nam tử tên là Takkāriya đang học tập với Tế sư này.
   Bấy giờ, vị Tế sư ra lệnh hạ cổng thành cũ xuống làm cổng mới cho sẵn sàng, khi đã xong xuôi, ông vào tâu trình vua:
   -    Tâu Chúa thượng, cổng thành đã xong, ngày mai lại có sự kết hợp tốt lành của các tinh tú. Vậy trước khi ngày mai trôi qua hết, ta phải làm tế lễ và dựng cổng thành mới.
   -    Được rồi, này quốc sư, phải cần tế lễ như thế nào?
   -    Tâu Chúa thượng, đại hoàng môn đang được các đại thần linh chiếm cứ và bảo vệ. Vậy phải giết một Bà-la-môn có da ngăm ngăm đen và không có răng, thuần chủng cả hai bên cha mẹ, lấy máu thịt vị đó đem ra tế lễ, thân
thể đặt phía dưới, và cổng dựng lên trên đó. Vị ấy sẽ đem lại vận may cho Chúa thượng cùng cả kinh thành này.
  -  Được lắm, này quốc sư, hãy tìm một Bà-la-môn như vậy mà giết đi rồi dựng hoàng môn lên trên đó.
  Vị Tế sư rất hoan hỷ, ông bảo:
  -  Ngày mai ta sẽ trừ khử được kẻ thù của ta rồi!
  Lòng đầy hăng hái, ông trở về nhà, nhưng không thể giữ yên cái lưỡi được, liền nói ngay với vợ:
  -  Này mụ già xấu kia, rồi mụ sẽ còn ai để hú hí nữa chứ? Ngày mai ta sẽ giết tình lang của mụ và đem tế lễ đấy !
  - Tại sao ông muốn giết người vô tội?
  - Đức vua ra lệnh cho ta giết một người Bà-la-môn ngăm ngăm đen và dựng cổng thành lên người đó. Còn tình lang của mụ cũng ngăm ngăm đen nên ta định giết nó để tế lễ.
  Bà vợ liền gởi cho tình quân một lá thư nhắn nhủ: “Chúng bảo đức vua muốn giết một Bà-la-môn da ngăm ngăm đen để tế lễ; vậy nếu chàng muốn cứu lấy mạng mình xin hãy lo đào tẩu kịp thời, đem theo cả những người nào giống như chàng nữa.”
Người kia làm theo như vậy, tin đó lan khắp kinh thành, và mọi người nào có màu da đen đều tẩu thoát cả.
Vị tế sư không hề biết gì về việc kẻ thù đã chạy trốn. Sáng hôm sau vào yết kiến vua thật sớm và tâu:
 -  Tâu Chúa thượng, trong chỗ kia có một Bà-la-môn da ngăm ngăm đen, xin cho bắt nó lại.
Vua bảo vài người đến tìm kẻ đó, nhưng họ chẳng thấy ai cả, liền trở về thông báo cho vua rằng kẻ ấy đã trốn thoát rồi. Vua phán:
-  Vậy hãy tìm nơi khác.
Họ lục soát khắp kinh thành nhưng chẳng tìm được ai. Vua phán:
- Phải kiếm thật nhanh lên.
Họ đáp:
- Tâu Chúa thượng, ngoại trừ vị quốc sư, chẳng còn ai khác nữa.
Vua phán:
-   Tế sư không thể đem ra giết được.
- Tâu Chúa thượng, Chúa thượng đã phán bảo điều gì vậy? Theo lời
Tế sư này, nếu cổng thành không được dựng hôm nay, thì kinh thành sẽ gặp nguy hiểm. Khi vị Tế sư giải thích việc này, ông ta để ngày này trôi qua, thì giờ tốt không trở lại nữa cho đến cuối năm. Kinh thành này không có cổng suốt một năm ròng là cơ hội ngàn vàng để cho kẻ thù chúng ta. Chúng ta phải giết một người nào đó, và làm tế lễ nhờ sự trợ lực của một vị Bà-la môn hiền trí rồi dựng cổng thành.
  -     Nhưng có vị Bà-la-môn nào đủ tài trí như sư phụ ta chăng?
  -     Tâu Chúa thượng, có đồ đệ của vị ấy, một nam tử tên là Takkāriya xin hãy phong vị ấy làm tế sư và cử hành lễ cát tường này.
   Vua liền triệu vị nam tử ấy vào, ban cho chàng vinh hiển và phong chàng làm tế sư, rồi ra lệnh làm mọi sự như đã nói.
   Vị nam tử ấy đi đến hoàng môn với một đám đông theo sau. Nhân danh hoàng đế, họ trói vị Tế sư cũ và đem đến. Bậc Đại sĩ bảo đào một cái hố, tại nơi hoàng môn sắp được dựng lên, che một cái lều trên đó, cùng với sư phụ bước vào lều. Vị Tế sư ấy nhìn cái hố, thấy không lối nào thoát, liền bảo bậc Đại sĩ:
   -     Mục đích của ta đã thành đạt, ta thật là một kẻ ngu si, ta đã không biết giữ mồm giữ miệng cho yên mà lại hấp tấp nói với mụ đàn bà độc ác kia. Ta đã tự sát bằng chính binh khí của ta.
   Rồi ông ngâm vần kệ đầu:
1.           Ta nói điên cuồng tựa ễnh ương
              Trong rừng gọi rắn, ngã nhào luôn
              Vào trong hố, thật, Takka hỡi,
Lời nói phi thời phải tiếc thương!
Sau đó, vị nam tử đáp lời ông và ngâm vần kệ này:
2.              Người nói phi thời phải diệt vong,
                 Như vầy, than khóc với đau buồn,
                 Xin thầy tự trách mình nay phải
                 Nhận lỗ đào này, ấy hố chôn.
 Cùng với lời ấy, ngài nói thêm:
 -     Thưa sư phụ, không phải chỉ mình sư phụ, mà nhiều người khác nữa đã phải chịu khổ đau vì không biết phải giữ lời nói cho kỹ.
Nói vậy xong, ngài kể một chuyện quá khứ để minh chứng điều đó.
                                                                      *
CHUYỆN KỸ NỮ KĀLĪ
    Chụyện kể rằng ngày xưa tại Ba-la-nại, có một cô kỹ nữ sang trọng tên là Kālī, nàng có một người anh tên là Tuṇḍila. Trong một ngày, Kālī có thể kiếm cả ngàn đồng tiền. Bấy giờ, Tuṇḍila là một gã trác táng, nghiện rượu, mê cờ bạc, hễ nàng cho gã tiền và gã có được bao nhiêu tiền đều phung phí hết; Nàng cố sức ngăn cản gã nhưng không thể được.
    Một hôm, gã thua bài súc sắc, phải mất ngay cả áo quần đang mặc trong mình. Gã vừa mang quanh mình một tấm khố rách vừa đi đến nhà em gái. Nhưng nàng đã ra lệnh cho các tỳ nữ rằng, nếu Tuṇḍila có đến thì bọn họ không được cho gã cái gì cả mà phải lôi cổ gã quẳng ra ngoài. Vì thế, họ đã làm đúng như vậy. Gã liền đứng lại bên thềm và kêu than.
    Bấy giờ, có con trai một phú thương nọ thường vẫn cho Kālī cả ngàn đồng tiền hôm ấy tình cờ gặp gã, liền hỏi:
    -  Tại sao lại khóc lóc vậy, Tuṇḍila?
   Gã đáp:
   -  Thưa công tử, tôi đã thua bài súc sắc, đến cầu xin em tôi, bọn nữ tỳ lại nắm lấy cổ tôi lôi ra ngoài.
   - Được rồi, cứ ở lại đây, ta sẽ nói chuyện với em gái cậu.
  Chàng vào nhà bảo:
  -  Anh của nàng đang đứng đợi kia, chỉ mặc khố rách che thân. Tại sao nàng không cho anh áo quần mặc?
  Nàng đáp:
 - Đúng vậy, thiếp chẳng muốn cho gì cả, nếu chàng thích anh ta thì chàng cho đi.
 Bấy giờ, trong ngôi nhà mang tai tiếng xấu xa kia, có tục lệ như vầy: “Cứ mỗi một ngàn đồng tiền nhận được, thì năm trăm đồng được dùng cho bọn nữ nhân, năm trăm đồng để mua sắm xiêm y, dầu thơm và vòng hoa. Bọn khách làng chơi đến đây nhận áo quần mặc vào, ở lại đêm tại đó, rồi ngày hôm sau cởi áo quần ấy ra trả, mặc quần áo của mình và ra đi. Trong dịp ấy, con trai vị phú thương mặc áo quần mà bọn họ đưa cho chàng, và đem quần áo của chàng cho Tuṇḍila. Gã ấy mặc áo quần vào, vừa la hét vừa chạy đến tửu quán.
     Nhưng nàng Kālī ra lệnh cho bọn nữ tỳ rằng khi chàng trai ra về ngày hôm sau, họ phải lấy lại áo quần. Vì vậy, khi chàng bước ra, bọn họ chạy đến từ khắp nơi như bọn cướp, lột hết áo quần trên thân của chàng đến trần như nhộng, rồi bảo:
  - Này công tử, ra về đi!
  Họ tống khứ chàng ta như vậy. Chàng ra đi trần truồng, bị mọi người chế giễu. Chàng ta hổ thẹn than khóc:
  - Đây chính là việc ta gây ra vì ta không giữ được mồm miệng!
  Để làm sáng tỏ vấn đề này, bậc Đại sĩ ngâm kệ thứ ba:
3.        Tại sao lại hỏi chuyện Kālī
           Cư xử thế nào với Tuṇḍi?
          Gặp phải tay em chàng, hãy ngắm,
          Áo quần ta đã biến bay đi,
          Ta đành trần trụi, như tai vạ
          Xảy với thầy, sao thật quái kỳ!
                                                       *
CHUYỆN CHIM ĐUÔI CHĨA
     Một người khác lại kể chuyện này: Do sự bất cẩn của người chăn dê, hai con dê đực đánh nhau trên đồng cỏ ở Ba-la-nại. Trong lúc đang hăng máu, có một chim đuôi chĩa nghĩ thầm:‘‘Chúng sẽ vỡ đầu ra mà chết mất, ta phải ngăn cản chúng mới được!” Thế là nó cố gắng ngăn cản bằng cách kêu la:
  - Chú ơi, đừng đánh nhau nữa!
  Nó chẳng nghe chúng nói gì đáp lại. Ngay giữa trận đánh, nó nhảy lên lưng trước, rồi sau nhảy lên đầu,van xin chúng dừng lại nhưng chẳng được gì. Cuối cùng, nó kêu to:
 - Thế thì cứ đánh nhau đi, nhưng giết tôi trước đã!
 Và nó đứng chen vào giữa hai cái đầu dê. Chúng vẫn tiếp tục húc nhau văng ra xa. Con chim bị nghiền nát như thể bởi cái chày, và chịu hủy hoại do chính hành động của nó.
Để giải thích việc này, bậc Đại sĩ ngâm vần kệ thứ tư:
4.             Chim đuôi chĩa  vội đến bên sườn,
                Hai chú dê rừng lúc đả thương,
                Dù chẳng dự phần trong trận đấu,
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây