Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 87: Chương Mười Sáu- Phẩm Ba Mươi Bài Kệ - Phần 13 (trang 608-613)

               Chẳng được niềm tin yêu thuở trước
               Của thân bằng quyến thuộc lân bang.
8.           Xe ngựa, quản xa, với vệ binh
             Lục quân lúc trước thật hùng anh,
             Khi nhìn vua phải tiêu cơ nghiệp,
              Cũng chẳng còn vị nể, kính danh.
9.           Ngu xuẩn sống đời chẳng kỷ cương,
              Bị lời tà dụ dỗ, sai đường,
              Người ngu chóng mất vinh quang cũ
              Như rắn phải quăng lớp vỏ tàn.
11.           Song kẻ nào thức dậy đúng thời,
              Không hề mỏi mệt, kỷ cương noi,
             Cả đàn gia súc đều tăng trưởng,
             Tài sản người kia lớn mãi hoài.
11.        Đại đế xin ngài mở rộng tai,
            Lắng nghe dân chúng nói bao lời,
            Nhờ nghe, nhìn được điều chân lý,
             Thành đạt đường theo phước nghiệp ngài.
Như vậy, bậc Đại sĩ đã giáo hóa vua mười một vần kệ, rồi bảo:
- Đại vương, hãy đi nuôi dưỡng quốc độ, đừng chậm trễ, chớ để đất nước suy tàn.
Nói xong, ngài trở lại cõi của ngài.
 Vua nghe các lời khuyên ấy, vô cùng cảm kích, ngay hôm sau, ngài liền giao việc nước cho các vị đại thần và cùng với vị tế sư của hoàng gia, rời kinh thành bằng đông môn và đi được một khoảng chừng vài trăm thước. Nhằm lúc ấy, có một ông lão vốn là dân làng lấy những cành cây gai trong rừng về đặt quanh nhà, sát cửa lớn, rồi cùng vợ con vào rừng. Buổi chiều, khi quân lính vua đã bỏ đi, người ấy trở về nhà đến gần cửa, bị đầu gai nhọn đâm vào chân, lão ngồi vắt chân lên, vừa rút gai ra, vừa nguyền rủa vua qua vần kệ:
12.          Mong tên trúng ở chiến trường
               Cho Pañcāla bạo chúa thương khóc đời,
               Như ta có cớ kêu trời,
                Thế này vì bị gai dài đâm da.
    Lời nguyền rủa vua này phát ra nhờ thần lực của Bồ-tát, lão già nguyền rủa vua như thể một người được Bồ-tát nhập vào, hành động này của lão phải được hiểu như vậy. Vào lúc đó, vua cùng vị tế sư của ngài đang cải trang đứng trước mặt lão.
Vị tế sư nghe như vậy liền đáp kệ:
13.            Tôn ông nay tuổi đã già,
                 Và đôi mắt đã mù lòa, cho nên
               Chẳng công bằng để xét xem,
              Chính ta đáng bị rủa nguyền đó sao?
               Chúa Brahmadatta biết thế nào,
               Khi chân ông bị gai cào đâm da?
Nghe lời này, ông lão ngâm ba vần kệ:
14.          Hiển nhiên vì chúa Brahmadatta
               Cho nên mới khổ thân ta thế này!
              Như dân cô thế thường hay
              Bị đem chém giết vì bầy hại dân.
15.         Ban đêm bị trộm ăn phần,
             Ban ngày gặp lũ thuế nhân thu tiền,
            Ác nhân đầy rẫy toàn miền,
            Khi bầy bạo chúa nắm quyền trong tay.
16.        Khổ đau vì sợ nỗi này,
             Dân lành đành phải chạy bay vào rừng,
             Chung quanh nhà, rải lung tung
            Đám gai để được yên phận mình!
Nghe nói vậy, vua bảo vị Sư trưởng:
-  Này Sư trưởng, lão già này nói đúng lắm, đó là lỗi của ta. Vậy ta hãy trở về cai trị nước cho đúng pháp.
Lúc ấy, Bồ-tát nhập vào thân vị Sư trưởng, đứng trước mặt vua bảo:
-Tâu Đại vương, ta hãy xem xét vấn đề này cho kỹ.
Rồi từ làng ấy qua một làng khác, hai vị lại nghe lời của một bà già. Nghe nói bà này nghèo khổ có hai con gái đã lớn mà bà không muốn cho hai con vào rừng. Nhưng chính bà phải tìm củi, lá khô về cung cấp cho hai con. Một ngày kia bà lão trèo lên cây lượm lá, bị té lăn tròn xuống đất, liền nguyền rủa vua phải chết đi và ngâm vần kệ này:
17.       Khi nào vua ấy chết đi,
            Chao ôi, còn chúa trị vì non sông,
            Các con lẻ bóng phòng không,
             Thở than mong kiếm tấm chồng hoài hơi!
Vị tế sư ngâm vần kệ ngăn lời bà lão:
18.        Xấu mồm vô ích, bà ơi!
            Những lời bà mới kêu trời gào la,
            Làm sao vua kiếm đâu ra
           Trong làng cho mỗi gái tơ một chồng?
Bà già nghe nói, đáp lại hai vần kệ:
19.          Lời ta chẳng phải ác ngôn,
              Cũng không phải nói hoài công hão huyền,
              Khi còn thất thế dân đen
             Chịu đàn áp bởi lắm tên giết người.
20.         Đêm nằm cho trộm làm mồi,
             Ban ngày lũ thuế nhân xơi mất phần,
            Ác nhân đầy rẫy non sông,
            Khi quyền cai trị hôn quân nắm hoài,
           Thời suy, bần nữ lắm người
            Buồn tình chẳng kiếm được ai làm chồng!
Nghe bà lão nói, cả hai vị đều nghĩ: “Bà lão này nói đúng vấn đề đây.”
Rồi hai vị đi xa hơn một khoảng đường lại nghe một gã nông dân nói chuyện. Trong lúc gã cày ruộng, con bò của gã tên gọi Sāḷiya ngã lăn ra vì bị lưỡi cày đụng phải, gã chủ bò liền nguyền rủa vua qua vần kệ:
21.          Cầu Pañcāla chúa ngã lăn,
               Trúng nhằm mũi giáo của quân thù hằn,
              Như Sāḷiya ngã xuống đường,
              Thương thay, cày đụng bị thương nằm đờ!
Vị Sư trưởng liền ngâm vần kệ chặn gã lại:
22.         Ngươi hờn giận chúa Brahmadatta
              Song ai có thấy đâu là nguyên do?
              Vì ngươi phỉ báng đức vua,
            Tội kia tất cả đều là của ngươi.
Nghe thế, gã nông phu đáp ba vần kệ:
23-24.           Vì vua, ta cứ giận sôi,
                     Nên ta cương quyết giữ lời thẳng ngay,
                     Dân đen thất thế như vầy,
                    Bị tàn sát bởi lắm tay giết người,
                    Đêm nằm cho trộm làm mồi,
                    Ban ngày lũ thuế nhân xơi mất phần.
25.              Gia nô phải nấu hai lần
                   Rồi mang cơm nước muộn màng cho ta,
                   Lúc đang há họng chờ nhà,
                   Bò ta bị đụng ắt là mạng toi.
  Đi xa hơn một đoạn nữa, hai vị vào một làng kia. Sáng sớm hôm sau, một con bò trở chứng đá người vắt sữa ngã nhào, sữa đổ tung tóe. Người này liền ngâm vần kệ nguyền rủa vua Brahmadatta:
26.            Cầu Pañcāla chúa ngã lăn,
                 Vì do một mũi kiếm đâm trận tiền
                 Như ta, bò đá lăn chiêng
                  Đá luôn thùng sữa đổ liền hôm nay.
Vị tế sư ngâm vần kệ đáp:
27.            Này, bò đá gậy thúc dai,
                 Hay là thùng sữa của người đổ ra,
                 Việc gì đến chúa Brahmadatta,
                 Khiến ngài chịu mọi gièm pha thế này?
Nghe vậy, người vắt sữa bò ngâm ba vần kệ đáp:
28-29.        Pañcāla chúa đáng trách thay
                   Vì nền cai trị, thưa ngài La-môn,
                   Dân lành cô thế thấy luôn
                   Bị tàn hại bởi những quân giết người,
                   Ban đêm bị trộm rình mồi,
                  Ban ngày lũ thuế nhân xơi mất phần.
30.              Hung hăng là thứ bò rừng,
                  Việc đem vắt sữa, chưa từng trước đây,
                  Ta đành vắt sữa hôm nay,
                  Vì nhu cầu sữa mỗi ngày một tăng.
Hai vị bảo nhau:
-   Gã này nói đúng đấy.
Rồi từ làng ấy, hai vị đi ra đường cái tiến về kinh thành. Trong một làng nọ, có gã thu thuế giết một con bê có đốm rồi lột da để làm bao da bọc kiếm, khiến bò mẹ nó quá buồn khổ vì mất con thơ, bỏ cả ăn cỏ uống nước, chỉ lang thang kêu khóc. Thấy vậy, trẻ con trong làng nguyền rủa vua:
31.        Cầu Pañcāla chúa héo mòn,
            Hoài công than khóc mất con như vầy,
            Bò kia quẩn trí thương thay,
            Đi tìm bê nhỏ, người nay giết càn.
Vị tế sư liền ngâm vần kệ khác:
32.       Khi bò trâu phải lạc đàn,
           Muốn vơi nỗi khổ, khóc vang kêu gào.
           Vậy thì duyên cớ làm sao
           Khiến ngươi chê trách nhằm vào vua ta?
Lũ trẻ đáp lại hai vần kệ sau:
33.       Tội tình của chúa Brahmadatta,
            Việc này con thấy rõ ra rành rành:
           Bơ vơ khốn đốn dân lành,
           Vẫn thường bị bọn bạo hành giết tươi.
34.      Ban đêm bị trộm rình mồi,
           Ban ngày lũ thuế nhân xơi mất phần,
           Ác nhân đầy rẫy non sông,
           Khi quyền cai trị hôn quân nắm tròn,
           Cớ sao bê hãy còn non,
           Phải đem giết bỏ, chỉ cần bao da?
-  Các ngươi nói đúng đấy.
Hai vị nói xong liền ra đi. Trên đường họ thấy một hồ nước khô cạn, bầy quạ đang lấy mỏ bắt ếch nhái ăn thịt. Khi hai vị đến nơi, Bồ-tát vận dụng thần lực nguyền rủa vua qua miệng con nhái:
35.      Cầu Brahmadatta chúa chết chùm,
           Cùng bầy con cháu ở trong chiến trường,
            Như ta nhái bén rừng hoang,
            Làm mồi cho lũ quạ làng hôm nay.
Nghe vậy, vị tế sư ngâm vần kệ nói chuyện với con nhái:
36.              Nhái cần biết rõ nhái này,
                   Đại vương không thể giữ bầy nhái ranh,
                   Việc này vua chẳng tội tình,
                  Khi bầy quạ đớp an hem nhà mày.
Nghe vậy, nhái đáp lại hai vần kệ:
37.            Tế sư lời nịnh khéo thay,
                 Phỉnh lừa vua chúa như vầy ác gian,
                 Mặc cho dân bị sát tàn,
                 Nhà vua cứ tưởng lối đàng quốc sư,
                Quả là đệ nhất tài ba,
                Giá như có phúc mọi nhà phồn vinh.
38.           Nước này an lạc, thái bình,
                Quạ kia được hưởng phần mình cực sang,
                Có đâu cần phải giết càn
                Các loài nhỏ mọn như đàn ễnh ương?
Nghe vậy, vua và vị Sư trưởng đều nghĩ thầm: “Tất cả mọi loài, ngay cả nhái rừng, đều nguyền rủa ta.”
Vì thế, khi về thành, hai vị lo cai trị nước thật đúng pháp và hành trì theo lời thuyết giảng của bậc Đại sĩ; hai vị chuyên tâm bố thí và làm các thiện sự khác.
                                                      *
   Đến đây, bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại với vua Kosala bằng các lời này:
  -   Này Đại vương, một vị vua phải dứt bỏ các ác đạo và cai trị đúng pháp.
  Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
  -   Vào thời ấy, vị Thần cây tinduka chính là Ta.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây