Tác giả/Dịch giải: Nguyễn Minh Tiến. Hiệu đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 1135.
Ý kiến bạn đọc
PHẨM THỨ NHẤT
CHUYỂN PHÁP LUÂN(1)
Có một lúc đức Phật(3)tại thành Vương Xá,(4)núi Kỳ-xà-quật,(5)cùng với sáu mươi hai ngàn vị đại tỳ-kheo.(6)Các vị đều là những bậc A-la-hán(7)đã dứt sạch lậu hoặc,(8)
____________________________
(1)Chuyển pháp luân: chỉ việc thuyết giảng chánh pháp, ví như người ta quay cái bánh xe để làm cho mọi thứ chuyển động. Đức Phật thuyết pháp cũng làm cho thế gian được xoay chuyển, đạt đến sự giải thoát, nên gọi là chuyển pháp luân, tức là chuyển bánh xe pháp.
(2)“Tôi nghe như thế này” là lời tự xưng của ngài A-nan, người đã ghi nhớ và thuật lại kinh này. Câu này trong kinh văn chữ Hán là “Như thị ngã văn”, được đặt ở đầu tất cả các kinh điển như một dấu hiệu làm tin, để xác nhận rằng kinh điển ấy được ngài A-nan nghe từ chính kim khẩu của đức Phật Thích-ca nói ra.
(3)Tức là Phật Thích-ca Mâu-ni. Trong kinh này có sự xuất hiện của nhiều vị Phật khác nhau, vì thế, chúng tôi sẽ tùy theo từng chỗ để chuyển dịch sao cho tránh được sự nhầm lẫn.
(4)Thành Vương Xá, tên Phạn ngữ là Rājagṛha , ở nước Ma-già-đà thuộc miền trung Ấn Độ, là đô thành của vua Tần-bà-sa-la, cha của vua A-xà-thế.
(5)Núi Kỳ-xà-quật, tên Phạn ngữ là Gṛdhrakūṭa, cũng thường gọi là núi Linh Thứu. Đại tỳ-kheo: Tỳ-kheo là người thuộc nam giới xuất gia theo Phật (nữ giới xuất gia gọi là tỳ-kheo ni), thọ cụ túc giới, chỉ đi khất thực, sống bằng sự cúng dường của bá tánh, Phạn ngữ là Bhiksu, bao hàm bốn nghĩa: 1. Giữ hạnh khất thực thanh tịnh. 2. Phá trừ phiền não. 3. Trì giới thanh tịnh. 4. Có thể làm hàng phục chúng ma. Những vị tỳ-kheo (Bhiksu) tuổi cao đức trọng được tôn xưng là đại tỳ-kheo.
(7)A-la-hán: Bậc tu hành đã chứng đắc quả vị cao nhất của Thanh văn thừa, tức quảA-la-hán (Arhat). Thanh văn thừa có bốn thánh quả từ thấp lên cao là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán.
(8)Lậu hoặc: sự sinh khởi những tâm thức xấu ác làm cho trí huệ phải bị che mờ, giống như vật chứa bị rỉ chảy làm cho những gì chứa trong đó phải hao mất dần. Trong một chừng mực nhất định, lậu hoặc cũng có thể xem là một tên gọi khác của phiền não.
Trong pháp hội có bốn trăm bốn mươi vạn Bồ Tát, đứng đầu là Bồ Tát Di-lặc. Các vị đều đã đạt được các pháp nhẫn nhục, thiền định, đà-la-ni.(5)Các ngài hiểu sâu ý nghĩa các pháp đều là không và hoàn toàn không có tướng nhất định. Các vị đại sĩ(6)như thế đều là những bậc không còn thối chuyển(7) trên đường tu tập.
Bấy giờ lại có vị Đại Phạm thiên vương(8)và vô số tram ngàn thiên tử(9)ở cõi trời ấy, cùng với vị Thiên vương cõi
_________________
(1)Phiền não: những trạng thái tâm thức xấu ác sinh khởi do tham, sân và si, nguyên
nhân gây ra sự khổ đau của mọi chúng sinh.
(2)Nguyên văn dùng Ma-ha-na-già, phiên âm từ Phạn ngữ là Mahānāgā, nghĩa là đại long tượng (voi chúa, rồng chúa), chỉ những bậc siêu quần xuất chúng, so sánh như long vương, tượng vương giữa các loài thú khác. Từ này cũng có nghĩa là “đạivô tội”, có nghĩa là người đã dứt sạch mọi tội lỗi.
(3)Chấp hữu: sự vọng chấp của chúng sinh do vô minh che lấp, luôn cho rằng thế giới vật chất là thật có, từ đó sinh ra mê đắm, trong khi thật tánh của tất cả các pháp vốn là không.
(4) Chỉ trừ ngài A-nan: Ngài A-nan tuy có nhân duyên được theo hầu bên Phật, được nghe tất cả các kinh điển do Phật thuyết, nhưng cho đến khi đức Phật nhập Niếtbàn rồi ngài A-nan vẫn chưa chứng đắc quả vị A-la-hán, nên ở đây nói là ngài chưa được giải thoát.
(5) Đà-la-ni: phiên âm từ Phạn ngữ dhāraṇi, Hán dịch là tổng trì, có nghĩa là thâu nhiếp, nắm giữ được tất cả.
(6) Đại sĩ: một danh xưng khác để gọi các vị Bồ Tát.
(7)Không còn thối chuyển: địa vị tu chứng không còn bất cứ nguyên nhân, điều kiện nào có thể làm cho người tu thối lui trên đường tu tập.
(8)Đại Phạm thiên vương: vị vua ở cõi trời Đại Phạm (Mahābrahman).
(9)Thiên tử: các chúng sinh được sinh lên cõi trời đều gọi chung là thiên tử. Vì vậy, thiên tử ở đây có nghĩa là cư dân ở các cõi trời, khác với danh từ thiên tử ta thường dùng để gọi các vị vua ở thế gian.
Lại có vị Hoá Lạc(2)Thiên vương với số quyến thuộc là ba trăm năm mươi vạn cùng đến dự pháp hội.
Lại có vị Đâu-suất(3)Thiên vương với số quyến thuộc là ba trăm vạn cùng đến dự pháp hội.
Lại có vị Dạ-ma(4)Thiên vương với số quyến thuộc là ba trăm năm mươi vạn cùng đến dự pháp hội.
Lại có vị Đao-lợi(5)Thiên vương Thích-đề-hoàn-nhân(6)với số quyến thuộc là bốn trăm vạn cùng đến dự pháp hội.
Lại có vị Tỳ-sa-môn Thiên vương(7)với quyến thuộc mười vạn quỷ thần cùng đến dự pháp hội.
_________________
(1)Cõi trời Tha hóa tự tại, cũng gọi tắt là Tha hóa, tên Phạn ngữ là Paranirmitavaśavartina, là cõi trời thứ sáu trong 6 cõi trời thuộc Dục giới, nên cũng gọi là Đệ lục thiên. Tha hóa tự tại Thiên vương cũng chính là Ma vương Ba-tuần, một trong Bốn thứ ma não hại người tu.
(2)Hóa Lạc thiên (cõi trời Hóa Lạc), tên Phạn ngữ là Nirmanarataya, là cõi trời thứ năm trong 6 tầng trời thuộc cõi Dục giới, ở trên cõi trời Đâu-suất và dưới cõi trời Tha hóa tự tại.
(3)Đâu-suất thiên (cõi trời Đâu-suất), tên Phạn ngữ là Tuṣita, là cõi trời thứ tư trong 6 cõi trời thuộc Dục giới, cũng gọi là Diệu túc thiên, Tri túc thiên, Hỷ túc thiên hay Hỷ lạc thiên.
(4)Dạ-ma thiên (cõi trời Dạ-ma), tên Phạn ngữ là Yāma, viết đầy đủ là Suyāma (Tudạ-ma), là cõi trời thứ ba trong 6 cõi trời thuộc Dục giới, cũng gọi là Diễm thiênhay Thiện phân thiên.
(5)Đao-lợi thiên (cõi trời Đao-lợi), tên Phạn ngữ là Trāyastrṃśa, là cõi trời thứ hai trong sáu cõi trời thuộc Dục giới, cũng gọi là cõi trời Ba mươi ba (Tam thập tam thiên), nằm ở đỉnh núi Tu-di bên trên cõi Diêm-phù-đề.
(6)Thích-đề-hoàn-nhân, Phạn ngữ là Sakra Kevānām Indra, là tên gọi của vị thiên chủ cõi trời Đao-lợi.
(7)Tỳ-sa-môn Thiên vương, tên Phạn ngữ là Vaiśravaṇa, vị Thiên vương đứng đầu trong Bốn Thiên vương, là các vị Thiên vương hộ pháp trong Phật giáo, cũng thường gọi là bốn vị Hộ Thế Thiên vương. Tỳ-sa-môn Thiên vương trấn thủ ở phương bắc, vì thường đến nghe thuyết pháp tại các đạo trường nên cũng gọi là Đa Văn Thiên vương.
Lại có vị Tỳ-lâu-la-xoa Thiên vương(3)với quyến thuộc một ngàn con rồng cùng đến dự pháp hội.
Lại có vị Đề-đầu-lại-trá Thiên vương(4)với quyến thuộc một ngàn càn-thát-bà(5)cùng đến dự pháp hội.
Lại có các vị Nan-đà Long vương, Bà-nan-đà Long vương,(6)mỗi vị đều dẫn theo một ngàn quyến thuộc cùng đến dự pháp hội.
Hết thảy chúng hội như trên đều là những vị đã phát tâm hướng về Đại thừa, đều đã thực hành sáu pháp ba-la-mật.(7)
__________________________
(1)Tỳ-lâu-lặc Thiên vương, cũng đọc là Tỳ-lâu-lặc-xoa, tên Phạn ngữ là Virūḍhaka, cũng gọi là Tăng Trưởng Thiên vương, là một trong Tứ Thiên vương hộ pháp, vị này trấn giữ ở phía nam núi Tu-di.
(2)Quỷ câu-biện-đồ, tên Phạn ngữ là Kumbhāṇḍa, cũng đọc là câu-bàn-đồ, còn gọi là quỷ Đông qua, là loài quỷ ẩn hình hút lấy tinh khí của người mà sống, thuộc quyền quản lãnh của Tỳ-lâu-lặc Thiên vương ở phương nam.
(3)Tỳ-lâu-la-xoa Thiên vương, tên Phạn ngữ là Virūpākṣa, cũng gọi là Tăng trưởng Thiên vương, là một trong Tứ Thiên vương hộ pháp, vị này trấn giữ ở phía tây núi Tu-di, cũng gọi là Quảng Mục Thiên vương.
(4)Đề-đầu-lại-trá Thiên vương, tên Phạn ngữ là Dhṛitarāṣṭra, cũng đọc là Đa-la-trá Thiên vương, dịch nghĩa là Trì Quốc Thiên vương, là một trong Tứ Thiên vương hộ pháp, vị này trấn giữ ở phía nam núi Tu-di.
(5)Càn-thát-bà, tên Phạn ngữ là Gandharva, dịch theo nghĩa là Hương thần, là loài quỷ thần không cần ăn uống, chỉ cần ngửi mùi hương. Vì thế mà thân thể loài này tự xuất ra mùi hương. Đây cũng là một trong Tám bộ chúng thường đến nghe Phật thuyết pháp.
(6)Nan-đà Long vương (Nanda) là vị đứng đầu trong Bát đại Long vương, cùng với Bà-nan-đà Long vương là hai anh em. Cả hai vị thường làm mưa thuận gió hòa, khiến nhân dân an lạc, nên đều được xưng tụng là Hoan Hỷ Long vương.
(7)Sáu pháp Ba-la-mật (Sanskrit: pāramitā), viết đủ là Ba-la-mật-đa, cũng gọi là Lục độ (六度), dịch nghĩa là Cứu cánh đáo bỉ ngạn. Đó là các pháp tu tập của hàng Bồ Tát, gồm có:
1. Bố thí Ba-la-mật (布施, Sanskrit: dāna-pāramitā).
2. Trì giới Ba-la-mật (持戒, Sanskrit: śīla-pāramitā).
3. Nhẫn nhục Ba-la-mật (忍辱, Sanskrit: kṣānti-pāramitā).
4. Tinh tấn Ba-la-mật (精進, Sanskrit: vīrya-pāramitā).
5. Thiền định Ba-la-mật (禪定, Sanskrit: dhyāna-pāramitā).
6. Trí huệ Ba-la-mật (智慧, Sanskrit: prajñā-pāramitā).
Lúc bấy giờ, có các vị Bồ Tát như Bồ Tát Di-lặc, Bồ Tát Vô Si Kiến, Bồ Tát Thủy Thiên, Bồ Tát Sư Tử Ý, Bồ Tát Nhật Quang... những vị Bồ Tát đứng đầu như vậy có đến mười ngàn vị, cùng đứng dậy từ chỗ ngồi, trần vai áo bên phải,(5) quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng về phương đông nam, hết lòng hoan hỷ, cung kính chiêm ngưỡng rồi niệm rằng:
___________
(1)Bốn điên đảo (Tứ điên đảo): có hai loại, một là bốn điên đảo của phàm phu, hai là bốn điên đảo của hàng Nhị thừa. Phàm phu sống trong thế gian vô thường mà cho đó là thường, chịu mọi khổ não mà cho đó là vui, thế gian bất tịnh, nhơ nhuốc mà cho đó là thanh tịnh, trong sạch, thế gian không có thật ngã mà kể cho đó là bản ngã. Đối với hàng Nhị thừa, tuy đã thoát những nỗi khổ của phàm phu nhưng vẫn chưa được giải thoát rốt ráo, còn bị vô minh che lấp, nên đối với Niết-bàn của chư Phật là thường tồn mà cho là vô thường, thường vui mà cho là không có gì vui, có chân ngã mà cho là vô ngã, thường thanh tịnh mà cho là bất tịnh. Đó gọi là Bốn điên đảo của hàng Nhị thừa.
(2)Bốn thánh đế, tức là Tứ diệu đế, bốn sự thật hiển nhiên, bốn chân lý tuyệt đối trong thế gian. Bốn thánh đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Bốn thánh đế là giáo pháp căn bản của hàng Tiểu thừa, có thể giúp người tu tập chứng đắc đến quả vị A-la-hán.
(3)Tam-muội, Phạn ngữ là samādhi, cũng đọc là Tam-ma-đề, chỉ trạng thái chú tâm vào một đối tượng duy nhất, không còn bị loạn động do ngoại cảnh, nên cũng gọi là định. Chỉ quán luận, quyển 2 viết: “Đem tâm hợp với pháp, lìa hết mọi tà loạn, gọi là tam-muội.”
(4)A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, Phạn ngữ là anuttara-samyak-saṃbodhi, dịch nghĩa là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được dùng để chỉ quả vị Phật hay cảnh giới giải thoát rốt ráo.
(5)Trần vai áo bên phải: một nghi thức để tỏ lòng tôn kính trước khi thưa hỏi chuyện gì.
Bấy giờ, trong chúng hội có vị Đại Bồ Tát tên là Bảo Nhật Quang Minh, từ chỗ ngồi đứng dậy trần vai áo bên phải,quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng về đức Phật thưa hỏi rằng: “Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà các vị Bồ Tát như Bồ Tát Di-lặc, Bồ Tát Vô Si Kiến, Bồ Tát Thủy Thiên, Bồ Tát Sư Tử Ý, Bồ Tát Nhật Quang... những vị Bồ Tát đứng đầu như vậy có đến mười ngàn vị, cùng đứng dậy từ chỗ ngồi, trần vai áo bên phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tayhướng về phương đông nam, hết lòng hoan hỷ, cung kính chiêm ngưỡng rồi niệm rằng: ‘Nam-mô Liên Hoa Tôn Đađà- a-già-độ, A-la-ha, Tam-miệu
____________
(1)Nam-mô: phiên âm từ Phạn ngữ là Namah, trong kinh chú nhiều khi cũng đọc là nẵng-mồ, được dùng với ý cung kính, quy thuận nên cũng được dịch là “quymạng”, “kính lễ” hay “quy lễ”.
(2)Liên Hoa Tôn: danh hiệu của một vị Phật trong quá khứ mà các vị Bồ Tát này đang xưng tán.
(3)Đa-đà-a-già-độ, phiên âm từ Phạn ngữ là Tathāgata, là một trong mười hiệu của Phật, dịch nghĩa là Như Lai. Kinh Kim Cang có câu: “Không từ đâu đến, cũngkhông đi về đâu nên gọi là Như Lai.” (無所從來亦無所去故名如來。- Vô sở tùnglai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai.)
(4)A-la-ha, phiên âm từ Phạn ngữ là Arhat, dịch nghĩa là “ứng cúng”, nghĩa là xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của chúng sinh. Đây là một trong mười danh hiệu của Phật.
(5)Tam-miệu Tam-phật-đà, phiên âm từ Phạn ngữ Samyak-saṃbuddha, dịch nghĩa là Chánh đẳng giác, là danh hiệu thứ ba trong mười danh hiệu của Phật.
(6)Cả hai câu này bày tỏ sự tôn kính, ngưỡng mộ đối với Phật, nên dùng các danh hiệu của Phật để tôn xưng.
“Bạch Thế Tôn! Đức Phật Liên Hoa Tôn ở cách nơi này gần hay xa? Ngài thành đạo đến nay đã bao lâu? Cõi nước của ngài tên gọi là gì? Lấy gì để trang nghiêm? Đức Phật Liên Hoa Tôn vì sao lại thị hiện đủ các phép biến hóa? Phải chăng khi chư Phật thị hiện vô số các phép thần thông biến hóa trong mười phương thế giới, có các Bồ Tát nhìn thấy được, còn riêng con thì không?”
Bấy giờ, Phật bảo Bồ Tát Bảo Nhật Quang Minh rằng: “Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Câu hỏi của ông thật là quý giá như trân bảo, thật là hiền thiện, thật là khéo biện luận, thật là khéo thưa hỏi! Nay ông có thể thưa hỏi NhưLai về nghĩa nhiệm mầu như vậy, vì muốn giáo hóa cho vô số chúng sinh được gieo trồng căn lành, muốn được hiển bày cảnh giới của đức Phật Liên Hoa Tôn với đủ mọi sự trang nghiêm. Thiện nam tử! Nay ta sẽ thuyết giảng. Ông hãy lắng nghe, lắng nghe. Hãy khéo suy ngẫm! Hãy khéo nhận lãnh!”
Bồ Tát Bảo Nhật Quang Minh khi ấy hết lòng hoan hỷ lắng nghe lời dạy.
Đức Thế Tôn liền bảo Bồ Tát Bảo Nhật Quang Minh rằng: “Thiện nam tử! Về hướng đông nam, cách đây một ức trăm ngàn cõi Phật, có cõi Phật tên là Liên Hoa với đủ mọi sự trang nghiêm tốt đẹp, có các loại hương thơm bay