Tác giả/Dịch giải: Nguyễn Minh Tiến. Hiệu đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 1135.
Ý kiến bạn đọc
BỒ TÁT THỌ KÝ
“Khi ấy, đức Thế Tôn liền nhập Tam-muội Bất thất Bồ-đề tâm. Ngài dùng sức của tam-muội ấy mà phóng ra ánh hàoquang lớn, chiếu soi khắp vô số thế giới, khiến cho Chuyển luân Thánh vương cùng với vô số chúng sinh đều được nhìnthấy vô số thế giới của chư Phật.
“Bấy giờ, trong vô lượng vô biên thế giới khác ở khắp mười phương, mỗi một thế giới đều có các vị Đại Bồ Tát, được ánh hào quang của đức Phật chiếu đến, nương theo oai thần của Phật liền cùng hiện đến chỗ Phật, dùng những phép thần thông biến hóa mà mỗi vị đã đạt được để cúng dường Phật và chư tỳ-kheo tăng. Tất cả các vị đều cúi đầu lễ dưới chân Phật, đi quanh ba vòng cung kính rồi ngồi xuống phía trước, mong muốn được nghe đức Như Lai vì chư Bồ Tát mà thọ ký cho sự thành Phật của từng vị.
“Thiện nam tử! Khi ấy Phạm-chí Bảo Hải lại thưa với Thánh vương: ‘Đại vương! Nay đại vương trước hết nên phát thệ nguyện nhận lấy cõi Phật vi diệu.’
“Thế Tôn! Vừa qua trong vòng bảy năm con đã ngồi yên tĩnh tư duy về vô số những cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm khác nhau.
“Thế Tôn! Nay con phát nguyện khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề thì trong cõi thế giới sẽ không có những cảnh giới địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ; hết thảy chúng sinh sau khi mạng chung sẽ không phải đoạ vào ba đường ác.(1)Toàn cõi thế giới và chúng sinh ở đó đều chỉtoàn một màu vàng ròng. Chư thiên và loài người không có gì khác biệt nhau, tất cả đều chứng đắc Sáu thần thông.(2)
“Nhờ được Túc mạng thông nên biết được những việc trong cả trăm ngàn muôn ức na-do-tha kiếp đã qua. Nhờđược Thiên nhãn thanh tịnh(3) nên thấy được trăm ngàn ức na-do-tha thế giới trong khắp mười phương, cũng thấy được trong các thế giới ấy mỗi nơi đều có chư Phật hiện đang thuyết giảng giáo pháp nhiệm mầu. Nhờ được Thiên nhĩthanh tịnh(4)nên nghe được tiếng của chư Phật hiện
_______________
(1)Ba đường ác: Xem chú giải ở trang 94.
(2)Sáu thần thông: tức Lục thần thông hay Lục thông. Xem chú giải ở trang 93.
(3)Thiên nhãn thanh tịnh: tức Thiên nhãn thông.
(4)Thiên nhĩ thanh tịnh: tức Thiên nhĩ thông.
“Nguyện cho thế giới của con không có nữ giới, cũng không có tên gọi nữ giới. Hết thảy chúng sinh đều chỉ hóa sinh(3) một lần và có thọ mạng vô lượng, trừ khi có thệ nguyện khác. Không có hết thảy các tên gọi bất thiện. Thế giới thanh tịnh, không có mọi sự xấu xa nhơ nhớp, thường có hương thơm vi diệu của chư thiên tỏa khắp mọi nơi. Hết thảy chúng sinh đều được thành tựu ba mươi hai tướng tốt,(4) tự có chuỗi anh lạc trang sức quanh thân. Tất cả Bồ Tát ở thế giới của con đều đạt địa vị Nhất sinh,(5) trừ khi có thệ nguyện khác.
“Nguyện cho chúng sinh ở thế giới của con chỉ trong khoảng thời gian của một bữa ăn có thể nương oai thần của Phật mà đi đến khắp vô lượng vô biên cõi thế giới, được gặp các vị Phật hiện tại, lễ bái, đi quanh cung kính,
_______________
(1)Trí huệ tha tâm: tức Tha tâm thông.
(2)Như ý thông: tức Thân như ý thông, hay Thần cảnh thông.
(3)Hóa sinh: một trong bốn cách sinh ra của chúng sinh. Đó là: 1. Thai sinh: sinh ra từ bào thai. 2. Noãn sinh: sinh ra từ trứng. 3. Thấp sinh: sinh ra từ môi trường ẩm ướt. 4. Hóa sinh: sinh ra từ sự biến hóa, do nghiệp lực hoặc do sức thần thông.
(4)Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.
(5)Nhất sinh: tức Nhất sinh bổ xứ. Xem chú giải ở trang 86.
“Những chúng sinh ấy đều được thân thể có sức mạnh như lực sĩ na-la-diên(1)cõi trời. Những sự trang nghiêm tốt đẹp như thế ở cõi thế giới của con, cho dù là người đạt được thiên nhãn cũng không thể nói hết! Tất cả chúng sinh đều đạt được bốn biện tài.(2) Hết thảy những cây mà các vị BồTát ngồi bên dưới đều có cành lá tỏa rộng che khắp một vạn do-tuần.
“Thế giới của con thường luôn có ánh sáng thanh tịnh nhiệm mầu, khiến cho hết thảy mọi sự trang nghiêm tốt đẹp của vô lượng cõi Phật ở các phương khác đều hiện ra trong ánh sáng ấy. Chúng sinh ở thế giới của con, mãi cho đến khi thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, quyết chẳng bao giờ làm những điều bất tịnh, thường luôn là chỗ cung kính cúng dường tôn trọng của hết thảy chư thiên cùng với người và phi nhân. Từ khi phát tâm tu hành cho đến lúc thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề thường luôn được sáu căn(3) thanh tịnh. Ngay khi vừa sinh ra đã được niềm vui không phiền não, thọ hưởng sự khoan khoái vui sướng, tự nhiên thành tựu hết thảy mọi căn lành. Sinh ra rồi liền tự nhiên trên người khoác áo cà-sa mới, liền được phép tam-muội tên là Thiện phân biệt.(4)
__________________
(1)Na-la-diên: phiên âm từ Phạn ngữ Nārāyaṇa, chỉ các vị đại lực sĩ ở cõi trời, có sức mạnh vô hạn.
(2)Bốn biện tài: tức Tứ vô ngại biện, xem chú giải ở trang 102.
(3)Sáu căn: bao gồm nhãn căn, nhĩ căn, tị căn, thiệt căn, thân căn và ý căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Sáu căn thanh tịnh tức là không bị mê đắm theo sáu trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp).
(4)Thiện phân biệt: khéo phân biệt, có khả năng phân biệt đúng, chính xác.
“Tất cả các vị Bồ Tát ở thế giới của con đều theo như sở nguyện, tự mình tu tập trang nghiêm cho cõi thế giới thanh tịnh nhiệm mầu, nhìn vào trong cây quý bằng bảy báu liền thấy được mọi cõi thế giới Phật ở nơi xa cùng với hết thảy chúng sinh ở đó. Ngay sau khi sinh ra liền được phép tam-muội hóa hiện khắp nơi. Nhờ sức của tam-muội nên thường nhìn thấy chư Phật hiện tại trong vô lượng vô biên thế giới ở khắp mười phương, rồi mãi cho đến khi thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, quyết chẳng bao giờ thối thất.
“Nguyện cho tất cả chúng sinh trong cõi thế giới của con đều có được cung điện, y phục, chuỗi ngọc anh lạc, đủ mọi sự trang nghiêm tốt đẹp giống như ở cõi trời thứ sáu là cõi trời Tha hóa tự tại.(1) Thế giới của con không có núi đồi gò nổng, các núi Thiết vi lớn nhỏ, núi Tu-di và biển cả, cũng không có những tiếng như năm ấm,(2)năm sự ngăn che,(3) các phiền não chướng ngại; không có tên gọi
_______________
(1)Cõi trời Tha hóa tự tại: cõi trời thứ sáu trong Dục giới. Xem chú giải trang 78.
(2)Năm ấm, hay năm uẩn, được dịch từ Phạn ngữ pañca-skandḥāh, chỉ các nhóm thành tố tạo thành thân tâm chúng sinh, bao gồm: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm.
(3)Năm sự ngăn che (ngũ cái), được dịch từ Phạn ngữ pañca āvaraṇāni chỉ năm loại phiền não ngăn che trí huệ, gây chướng ngại cho sự giải thoát, bao gồm: tham dục (rāga-āvaraṇa), sân khuể (pratigha-āvaraṇa), hôn trầm, thụy miên (styānamiddha- āvaraṇa), trạo cử, ác tác (auddhatya-kaukṛtya-āva-raṇa) và nghi (vicikitsāāvaraṇa). Khi chưa trừ được năm điều này thì trí huệ không thể phát huy, tâm thức không thể đạt đến sự giải thoát, vì thế chúng được hình dung như những “nắp đậy”, che bít tâm thức.
“Bạch Thế Tôn! Chỗ phát nguyện của con là như vậy, muốn được cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh như thế.
“Bạch Thế Tôn! Trong đời vị lai, con nguyện sẽ tu hành đạo Bồ Tát nhiều đời nhiều kiếp, sao cho phải được thành tựu cõi Phật thanh tịnh như thế.
“Bạch Thế Tôn! Trong đời vị lai, con nguyện phải làm nên được những điều ít có, rồi sau mới thành tựu quả A-nậu-đa-laTam-miệu Tam-bồ-đề.
“Bạch Thế Tôn! Vào lúc con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, sẽ ngồi ở đạo tràng dưới gốc cây Bồ-đề lớn che khắp ngang dọc một vạn do-tuần, chỉ trongmột khoảnh khắc là thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
“Sau khi thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hào quang chiếu sáng khắp vô lượng vô biên trămngàn ức na-do-tha cõi thế giới của chư Phật, khiến cho thọmạng của con là vô lượng vô biên trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, không ai có thể biết hết được, chỉ trừ bậc Nhất thiết trí,(4)khiến cho thế giới của con không có Thanh văn thừa và Bích-chi Phật thừa,(5)hết thảy đại chúng đều chỉ toàn
______________
(1)Ba đường ác: Xem chú giải ở trang 94.
(2)Tám nạn xứ: xem chú giải ở trang 95.
(3)Cảm thọ của chúng sinh chia làm ba loại: cảm thọ khổ đau, khó chịu (khổ thọ), cảm thọ vui thích, dễ chịu (lạc thọ) và cảm thọ không khổ không vui, nghĩa là tuy có cảm thọ nhưng không thuận theo cũng không nghịch lại, không cảm thấy dễ chịu cũng không khó chịu (bất khổ bất lạc thọ, cũng gọi là xả thọ).
(4)Bậc Nhất thiết trí: chỉ đức Phật, bậc giác ngộ rốt ráo.
(5)Thanh văn thừa và Bích-chi Phật thừa: gọi chung là Tiểu thừa, chỉ những ngườiphát tâm tin Phật, tu đạo, nhưng không cầu quả vị giải thoát rốt ráo mà chỉ mong
“Nguyện sau khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, khiến cho chư Phật trong khắp mườiphương đều xưng dương tán thán danh hiệu của con.
“Nguyện sau khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ cõithế giới Phật khác, nếu có chúng sinh nào nghe đến danh hiệu của con rồi phát tâm tu các căn lành để cầu sinh về thế giới của con, nguyện cho các chúng sinh ấy sau khi xả bỏ thân mạng chắc chắn sẽ được sinh về, trừ ra những chúng sinh phạm năm tội nghịch,(1) phỉ báng thánh nhân, phá hoại Chánh pháp.
“Nguyện sau khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ cõithế giới Phật khác nếu có chúng sinh nào phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, tu các căn lành để cầu đượcsinh về thế giới của con, thì vào lúc lâm chung con cùng vớiđại chúng vây quanh sẽ hiện đến ngay trước mặt người ấy.Người ấy được thấy con rồi, liền do nơi con mà được tâmhoan hỷ. Nhờ được nhìn thấy con nên lìa khỏi mọi sự chướng ngại, liền đó xả bỏ thân mạng, sinh về thế giới của con.
“Nguyện sau khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, nếu các vị Đại Bồ Tát nào muốn từ nơicon nghe được những pháp chưa từng nghe, vị ấy sẽ theo như chỗ phát nguyện mà được nghe.
_____________
thoát khỏi những nỗi khổ trước mắt. Bích-chi Phật thừa cũng được gọi là Duyên giác thừa.
(1)Năm tội nghịch (ngũ nghịch tội): xem chú giải ở trang 109.