Tác giả/Dịch giải: Nguyễn Minh Tiến. Hiệu đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 1135.
Ý kiến bạn đọc
“Các vị Bồ Tát ấy trước tiên đều dùng đủ mọi phép biến hóa thần túc tự tại Sư tử du hý đã đạt được ở các cõi Phật ấy để cúng dường ông. Khi các vị Bồ Tát ấy đã cúng dường mọi thứ xong, liền lắng nghe ông thuyết pháp rồi chứng đắc các pháp môn Đà-la-ni, Tam-muội, Nhẫn nhục. Nghe thuyết pháp xong, mỗi vị đều quay về cõi Phật của họ, trình lên đức Phật Thế Tôn những sự việc ở thế giới của ông.
“Này Phạm-chí! Những điều trong mộng như thế đều là tướng mạo cho thấy sự thành đạo của ông.
“Phạm-chí! Trong mộng ông thấy trong bụng mình có vô lượng ức các vị Đại Bồ Tát ngồi kết già trên đài hoa sen nhập thiền định tam-muội, như vậy là trong đời vị lai khi ông thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-
“Này Phạm-chí! Những điều trong mộng như thế đều là tướng mạo cho thấy sự thành đạo của ông.
“Phạm-chí! Trong mộng ông nhìn thấy những người có khuôn mặt giống như lợn, cho đến giống như loài khỉ, thân hình máu me nhơ nhớp, ăn đủ các loài sâu bọ côn trùng, ăn rồi đến ngồi dưới gốc cây y-lan, lại có vô lượng chúng sinh xâu xé ăn nuốt thân thể, cho đến khi chỉ còn bộ xương, rồi lìa bỏ bộ xương ấy lại phải thọ sinh nhiều lần thân khác, như vậy là có những người ngu si mà tu tập Ba điều phúc, chỉ biết bố thí, điều phục, khéo giữ gìn thân và miệng.(1) Những người như vậy dù sinh lên cõi trời Tha hóa tự tại(2) vẫn phải chịu sự khổ suy thoái và diệt mất.(3)
______________________
(1)Chỉ những người không đủ trí huệ để tin sâu Đại thừa, tuy làm các việc thiện nhưng phát tâm thấp kém, chỉ biết cầu phước báo trong cõi trời người.
(2)Nguyên văn dùng Ma thiên, chỉ cõi trời của Thiên ma Ba-tuần, tức là cõi trời Tha hóa tự tại, cao nhất trong sáu tầng trời của cõi Dục giới.
(3)Nguyên văn dùng “thối một khổ”, chỉ sự suy giảm phước đức theo thời gian của chư thiên, cho dù kéo dài rất lâu so với cõi người nhưng vẫn không phải là thường tồn, cuối cùng rồi cũng phải diệt mất, thọ sinh về cảnh giới khác.
“Này Phạm-chí! Những điều ông thấy trong mộng như vậy chính là tướng mạo của việc thọ khổ lâu dài trong sanh tử.
“Phạm-chí! Trong mộng ông thấy có những người dung hoa tu-mạn-na làm chuỗi ngọc anh lạc, đi trên xe nhỏ xấu xí do trâu kéo, theo đường sai lệch chạy nhanh về hướng nam. Này Phạm-chí! Đó là tướng mạo của những người trụ yên trong việc làm phước thiện, có thể tự điều phục để được sự an tĩnh, lặng lẽ, hướng đến quả vị của Thanh văn thừa.’
“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ Phạm-chí Bảo Hải liền nói với vua Chuyển luân: ‘Đại vương nên biết rằng thân người khó được, mà nay đại vương đã có được điều ấy. Chư Phật Thế Tôn xuất thế rất khó gặp, còn khó hơn
___________
(1)Ba điều phúc: xem chú giải ở trang 206.
“Đại vương! Nếu thọ sinh trong cõi trời, người, đều là vô thường, không có tướng quyết định, khác nào như cơn gió mạnh. Những người ưa thích, tham đắm năm món dục(2) không biết chán lìa, khác nào như đứa trẻ say mê mặt trăng dưới nước.(3) Nếu phát nguyện được ở trong cõi trời người để hưởng những sự khoái lạc buông thả, người như vậy sẽ phải đời đời sinh nơi địa ngục, chịu vô số khổ não, như sinh trong cõi người thì phải chịu nỗi khổ chia lìa người yêu mến, gặp gỡ người oán ghét; như sinh nơi cõi trời thì phải chịu nỗi khổ suy thoái và diệt mất, sau đó đời đời phải chịu nỗi khổ ở trong bào thai; lại có đủ mọi nỗi khổ vì chúng sinh luôn tranh giành ăn nuốt đoạt mất mạng sống của nhau. Chỉ vì ngu si không biết như trẻ thơ cho nên trong lòng mới không biết chán!
“Vì sao vậy? Vì xa lìa bậc thiện tri thức. Vì không phát khởi những nguyện lành chân chánh. Vì không thực hành
_______________
(1)Hoa ưu-đàm (Udumbara), nói đủ là ưu-đàm-bát-la hay ưu-đàm-bà-la, là một loài hoa cực quý hiếm, tương truyền đến ba ngàn năm mới nở một lần, và chỉ nở khi có vị Chuyển luân Thánh vương ra đời. Tên hoa này dịch nghĩa là linh thụy hay tường thụy, đều có nghĩa là báo điềm lành.
(2)Năm món dục (Ngũ dục): sự vui thích, khoái cảm có được do thỏa mãn năm giác quan. Chẳng hạn như mắt được nhìn ngắm những thứ mình ưa thích, tai được nghe những âm thanh mình ưa thích...
(3)Vì hình sắc, âm thanh cho đến mọi đối tượng của giác quan đều là không thật, khác nào như bóng của mặt trăng hiện ra dưới nước. Người ngu si mới tham đắm dục lạc, cũng như chỉ có những đứa trẻ vì không biết mới say mê mặt trăng dưới nước, cho đó là thật.
“Ngu si như đứa trẻ thơ thì chẳng có sự hiểu biết phân biệt. Chỉ riêng tâm Bồ-đề(1) mới có thể lìa sạch hết thảy mọi nỗi khổ, ngược lại còn sinh chán lìa. Vòng sinh tử trong thế gian là mãi mãi chịu khổ, cho nên càng vui sướng khoái lạc thì lại càng làm cho khổ não tăng thêm.
“Đại vương! Nay ngài nên suy xét kỹ rằng trong chốn sinh tử có đủ mọi thứ khổ não như thế!
“Đại vương! Nay ngài đã cúng dường Phật, đã trồng được căn lành, vậy nên sinh lòng tin sâu vững đối với Tam bảo.
“Đại vương nên biết, người nào cúng dường đức Phật Thế Tôn chính là người sẽ giàu có lớn trong đời vị lai. Người nào ưa thích giữ gìn giới luật chính là người sẽ được sinh ra ở hai cõi trời, người trong đời vị lai. Và người nào hôm nay lắng nghe chánh pháp chính là người sẽ có trí huệ trong đời vị lai.
“Đại vương! Nay ngài đã thành tựu được hết thảy những điều như vậy, rất nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệuTam-bồ-đề!’
“Bấy giờ, vua Chuyển luân đáp rằng: ‘Phạm-chí! Ta nay không cần đến chỗ giác ngộ cao xa như vậy. Lòng ta hiện nay đang ưa thích, yêu mến cuộc sinh tử. Chính vì thế ta mới làm những việc bố thí, trì giới, nghe pháp. Này Phạmchí! Ta nghĩ rằng đạt đạo Bồ-đề Vô thượng là việc quá sức khó khăn!’
_____________
(1)Tâm Bồ-đề: là cách nói ngắn gọn của tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, tức là tâm cầu quả Phật.
“Đạo giàu có sung túc, vì thực hành Bố thí ba-la-mật. Đạo là thanh tịnh, vì thực hành Trì giới ba-la-mật. Đạo là vô ngã, vì thực hành Nhẫn nhục ba-la-mật. Đạo không dừng yên, vì thực hành Tinh tấn ba-la-mật. Đạo không rối loạn, vì thực hành Thiền định ba-la-mật. Đạo khéo chọn lọc, phân biệt, vì thực hành Trí huệ ba-la-mật.
“Đạo chính là chỗ vươn đến của trí huệ chân thật, vì thực hành đại từ. Đạo không thối chuyển, vì thực hành đại bi. Đạo luôn hoan hỷ, vì thực hành đại hỷ. Đạo kiên cố, bền vững, vì thực hành đại xả.
“Đạo không gai góc, vì thường biết xa lìa tham dục, sânhận. Đạo luôn an ổn, kín đáo, vì tâm không chướng ngại. Đạo không có gian tà, vì khéo phân biệt hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm và sự xúc chạm. Đạo phá trừ ma, vì khéo phân biệt các ấm, nhập, giới.(1) Đạo lìa bỏ ma, vì lìa bỏ mọi phiền não thắt buộc.
“Đạo nhiệm mầu thù thắng, vì lìa bỏ chỗ suy nghĩ của hàng Thanh văn, Duyên giác. Đạo biến hiện khắp nơi, vì được sự hộ trì của hết thảy chư Phật. Đạo quý báu như trân bảo, vì đầy đủ hết thảy trí huệ. Đạo sáng suốt thanh
____________
(1)Các ấm, nhập, giới: tức là Ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), Thập nhị nhập (sáu căn thiệp nhập với sáu trần) và Thập bát giới (sáu căn bên trong, sáu trần bênngoài, sáu thức ở giữa).
“Đạo luôn bình đẳng, vì dứt trừ hết thảy mọi sự yêu ghét. Đạo không có bụi bẩn, vì lìa bỏ sự dơ bẩn của giận hờn oán ghét. Đạo luôn hướng thiện, vì lìa bỏ hết thảy mọi điều bất thiện.
“Đại vương! Đạo là như thế, có thể đưa ta đến chỗ an lạc, cho đến đạt được cảnh giới Niết-bàn. Vì thế, Đại vương rất nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề!’
Bấy giờ, Chuyển luân Thánh vương đáp rằng: “Phạm chí! Nay đức Như Lai xuất hiện ở đời, thọ đến tám vạn tuổi, như vậy vẫn là có giới hạn, không thể vì tất cả chúng sinh mà dứt trừ hết thảy ác nghiệp, trồng mọi căn lành, hoặc trồng căn lành rồi đạt đến thánh quả, hoặc đạt được các pháp môn Đà-la-ni, Tam-muội, Nhẫn nhục, hoặc được các căn lành thù thắng nhiệm mầu của hàng Bồ Tát, được chư Phật thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hoặc có ít căn lành, sinh trong hai cõi trời người hưởng thọ các khoái lạc. Thảy đều chỉ là do chúng sinh mỗi người tự nhận lấy những quả báo thiện hay bất thiện của riêng mình.
“Phạm chí! Trong số chúng sinh dù chỉ có một người không có căn lành, đức Như Lai cũng không thể nào thuyết dạy họ cách dứt trừ khổ não. Như Lai Thế Tôn tuy là phước điền,(1)nhưng đối với người không có căn lành cũng không thể khiến cho họ trừ dứt các khổ não!