Tác giả/Dịch giải: Nguyễn Minh Tiến. Hiệu đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 1135.
Ý kiến bạn đọc
“Thiện nam tử! Nay ta lại nhìn thấy về phương tây cách đây bảy vạn bảy ngàn trăm ngàn cõi Phật,(1) có một thế giới tên là Tịch Tĩnh, ở đó có Phật hiệu là Bảo Sơn hiện đang vì Bốn chúng thuyết giảng giáo pháp vi diệu.
“Lại có đức Phật Thắng Quang Vô Ưu, Phật Âm Trí Tạng, Phật Xưng Quảng, Phật Biến Tạng, Phật Phạm Hoa, Phật Thế Tấn, Phật Pháp Đăng Dũng, Phật Thắng Âm Sơn, Phật Xưng Âm Vương, Phật Phạm Âm Vương... Vô lượng vô biên a-tăng-kỳ các đức Phật Thế Tôn như vậy ở phương tây, cũng đều là do ta khi còn là Bồ Tát đã khuyên dạy cho lần đầu tiên phát tâm Bồ-đề. Tòa sư tử của các đức Thế Tôn ấy đang ngồi cũng đều chấn động. Rồi các đức Phật ấy thảy đều ngợi khen xưng tán công đức của ta, lại cũng sai khiến vô lượng vô biên a-tăng-kỳ vị Đại Bồ Tát mang theo hoa quý thanh tịnh nguyệt quang minh vô cấu đến thế giới Ta-bà này, tại núi Kỳ-xà-quật, gặp Phật rồi lễ bái cúng dường tôn trọng, cung kính ngợi
______________
(1)Nguyên bản Hán văn chỗ này khắc là百千由旬佛之世界(bá thiên do-tuần Phật chi thế giới). Hai chữ do-tuần hoàn toàn không hợp lý ở đây nên chúng tôi lượcbỏ. Chúng tôi ngờ ở đây là那由他(na-do-tha), nhưng chỉ nêu ra để quý độc giảxem xét chứ không dám tùy tiện thêm vào.
“Về phương bắc cách đây trăm ngàn na-do-tha cõi Phật, có thế giới kia tên là Vô Cấu, ở đó có Phật hiệu là Ly NhiệtNão Tăng Tỳ-sa-môn Sa-la vương Như Lai. Có hai vị BồTát, một tên là Bảo Sơn, một tên là Quang Minh Quán.
“Lại có đức Phật Hoại Chư Ma, Phật Sa-la Vương, Phật Đại Lực Quang Minh, Phật Liên Hoa Tăng, Phật Chiên-đàn, Phật Di-lâu Vương, Phật Kiên Trầm Thủy, Phật Hỏa Trí Đại Lực... Vô lượng các đức Phật Như Lai như vậy ở phương bắc.
“Cho đến về các phương tây bắc, tây nam, đông bắc, đông nam, phương trên và phương dưới cũng đều như vậy.”
Lúc bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni vì muốn dung chứa được hết thảy đại chúng đông đảo như vậy nên dùng sức đại thần thông làm cho thân thể của tất cả những người đến dự pháp hội đều nhỏ lại chỉ bằng như hạt đình lịch.(1)Dù vậy, khắp thế giới Ta-bà khi ấy từ mặt đất lên đến hư không cũng vẫn đông đảo chật kín, không còn lấy một khoảng trống dù chỉ bằng sợi lông.
Lúc ấy, tất cả chúng sinh đều không thể nhìn thấy được nhau, cũng không thể nhìn thấy các núi lớn, núi nhỏ, núi chúa Tu-di, cùng hai núi Thiết vi lớn, nhỏ và khoảng tối tăm u ám ở giữa; phía trên không thấy được cung điện của chư thiên, phía dưới không thấy được chỗ thấp nhất của
_______________
(1)Hạt đình lịch: Một loại hạt rất nhỏ màu vàng đen, dùng làm vị thuốc. Có người nói là hạt của cây rau đay. Ở đây chỉ dùng với ý là rất nhỏ.
Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni lại nhập Tam-muội Biến hư không đoạn trừ chư pháp định ý, khiến cho vô sốhoa quý thanh tịnh nguyệt quang đều chui cả vào các lỗ chân lông trên thân Phật. Hết thảy đại chúng đều tự mình chứng kiến việc ấy.
Khi ấy, hết thảy chúng sinh đều không nghĩ đó là hình tướng sắc thân Phật, chỉ nhìn thấy trong những lỗ chân lông ấy có cảnh vườn cây xinh đẹp. Trong cảnh vườn cây ấy có nhiều cây báu. Những cây ấy đều có đủ mọi thứ cành lá, hoa quả sum suê. Trên cây còn có đủ các loại áo quý, cờ phướn, lọng báu cõi trời, chân châu, anh lạc trang nghiêm tốt đẹp, giống như ở thế giới An Lạc phương tây.(1) Đại chúng nơi đây thảy đều nhìn thấy như vậy, liền tự nghĩ rằng: “Nay chúng ta sẽ đến dạo chơi trong cảnh vườn kia.”
Lúc bấy giờ, chỉ trừ những chúng sinh trong Ba đường ác(2)và ở cõi trời Vô sắc,(3) còn ngoài ra hết thảy đại chúngđều theo các lỗ chân lông mà đi vào bên trong thân Như Lai,đến ngồi trong những cảnh vườn cây xinh đẹp kia.
Khi ấy, đức Phật Thích-ca xả bỏ phép thần túc, tức thờihết thảy đại chúng đều nhìn thấy nhau như cũ. Họ thắc mắchỏi nhau: “Không biết hiện nay đức Như Lai đang ở đâu?”
__________
(1)Thế giới An Lạc phương tây: tức thế giới Cực Lạc của đức Phật A-di-đà, cũng được gọi là Tây phương Tịnh độ. Xem kinh A-di-đà hoặc kinh Quán Vô LượngThọ.
(2)Ba đường ác: Xem chú giải ở trang 94.
(3)Cõi trời Vô sắc: Xem chú giải ở trang 345.
Khi ấy, đại chúng liền nhìn thấy khắp cả bên trong và bên ngoài sắc thân của Như Lai, liền tự biết được rằng vô lượng đại chúng tập hợp nơi đây đều đang ở bên trong sắc thân của Như Lai. Họ lại hỏi nhau rằng: “Chúng ta đã theo đường nào mà vào được bên trong thân Như Lai? Ai đã dẫn dắt chúng ta vào trong này?”
Bồ Tát Di-lặc lại nói với đại chúng: “Các ông hãy lắng nghe! Hiện nay đức Như Lai hiện sức biến hóa đại thần thông, lại vì muốn làm lợi ích cho tất cả đại chúng nên sắp sửa thuyết giảng pháp mầu. Nay các ông phải hết lòng chú ý lắng nghe.”
Bấy giờ, tất cả đại chúng nghe nói như vậy liền quỳ xuống, chắp tay cung kính lắng nghe lời dạy.
Khi ấy, đức Thế Tôn liền dùng pháp môn Nhất thiết hạnh để giảng thuyết pháp mầu.
Đức Phật bảo đại chúng: “Thế nào gọi là pháp môn Nhất thiết hạnh? Đó là: ra khỏi bùn lầy sinh tử, thể nhập Tám thánh đạo, thành tựu đầy đủ, đạt được trí hiểu biết tất cả.
“Thiện nam tử! Có mười pháp chuyên tâm phát khởi Bồ-đề có thể vào được pháp môn này. Những gì là mười?
“Pháp thứ nhất là vì muốn cho tất cả chúng sinh đều được giải thoát nên tùy hỷ hồi hướng.
“Pháp thứ hai là vì phát khởi lòng đại bi nên thâu nhiếp hết thảy chúng sinh.
“Pháp thứ tư là vì muốn thấu hiểu những điều chưa hiểu nên tu tập trang nghiêm, quán xét xa lìa sự điên đảo hư vọng.
“Pháp thứ năm là vì muốn giảng rộng chánh pháp như tiếng sư tử rống nên tu tập trang nghiêm không còn chỗ sợ sệt, quán xét tánh thật của các pháp không có bản ngã.
“Pháp thứ sáu là vì muốn tùy thuận tất cả các thế giới mà mình đến nên trong tâm không có sự phân biệt, khéo học biết hết thảy các pháp đều là không, thân người là vô thường không bền chắc, như Phật có dạy Mười thí dụ.(1)
___________________
(1)Mười thí dụ: Trong kinh Phật thường dùng mười thí dụ để chỉ rõ ý nghĩa “tất cả các pháp đều là không” và “thân người là vô thường, không bền chắc”. Mười thí dụ để chỉ rõ ý nghĩa “tất cả các pháp đều là không” gồm có:
2. Ví như hơi nắng nóng (Diệm dụ - Phạn ngữ: marīci-upama): như khi trời nắng nóng mùa hè, hơi nóng lung linh, gió thổi bụi lay động, khiến người nhìn thấy như đủ các hình tướng, hoặc như thấy từ xa có nước, điều này ví như khi đắm chấp nơi các phiền não, bị phiền não trói buộc, chúng sinh mới lưu chuyển mãi mãi trong vòng sinh tử. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
3. Ví như trăng trong nước (Thuỷ trung nguyệt dụ - Phạn ngữ: udaka-candraupama): như mặt trăng ở giữa không trung mà hình chiếu hiện ra dưới nước, tướng thật của mặt trăng ví như tánh thật của các pháp, thật có giữa không
trung, còn kẻ phàm phu đối với các tướng ngã và ngã sở lại vọng chấp cho là thật có, khác nào như nhìn thấy mặt trăng trong nước mà cho đó là thật có; hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
4. Ví như hư không (Hư không dụ - Phạn ngữ: ākāśa-upama): như nói “hư không” thì đó chỉ là tên gọi, không có thật thể, lại như nhìn lên cao xa
thấy bầu trời xanh, giống như có màu sắc thật, nhưng nếu bay mãi lên cao cũng chẳng thể trông thấy được gì. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
5. Ví như tiếng vang (Hưởng dụ - Phạn ngữ: pratiśrutkā-upama): như trong chốn hang sâu núi thẳm hoặc giữa hai vách núi, khi phát ra tiếng kêu hoặc âm thanh lớn liền nghe có tiếng dội lại hòa theo, gọi là tiếng vang, âm thanh đó tuy là thật sự nghe thấy, nhưng lại không hề thật có. Hết thảy các pháp thật tánh đều là không, chỉ do những tướng hư dối mà thành như thật có.
6. Ví như thành càn-thát-bà ( Càn-thát-bà thành dụ - Phạn ngữ: gandharvanagara-upama): loài càn-thát-bà có thần thông biến hóa, thị hiện ra được những thành quách, nhà cửa, khi mặt trời vừa mới mọc có thể nhìn thấy
những thứ ấy như thật, có người đông đúc ra vào, đến khi mặt trời lên cao dần thì tự nhiên biến mất, không còn thấy được nữa; những thành quách nhà cửa như vậy tuy là có nhìn thấy rõ ràng nhưng không hề thật có, cũng như
những kẻ không có trí huệ nhìn thấy có bản ngã và các pháp, khởi lên các tâm dâm dục, sân hận, rồi quay cuồng điên đảo, mong cầu khoái lạc, nếu người có trí huệ rõ biết lý vô ngã, rõ biết các pháp là không thật, thì sự điên
đảo kia tự nhiên không còn nữa.
7. Ví như trong giấc mộng (Mộng dụ - Phạn ngữ: svapna-upama): Trong giấc mộng vốn không có sự thật, người nằm mộng lại vọng chấp cho là thật, đến khi tỉnh giấc mới biết, liền tự mình cười lấy mình. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
8. Ví như cái bóng (Ảnh dụ - Phạn ngữ: pratibhāsa-upama): do có ánh sáng chiếu nơi vật hiện thành cái bóng của vật, tuy thấy được mà không thể nắm bắt, giữ lấy. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
9. Ví như hình trong gương (Kính trung tượng dụ - Phạn ngữ: pratibimba-upama): như soi gương nhìn thấy mặt mình, hình trong gương đó vốn không phải do cái gương tạo ra, không phải do mặt mình tạo ra, không phải do người cầm gương tạo ra, không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do nhân duyên mà có. Cũng vậy, hết thảy các pháp đều là không, chẳng có sinh ra, chẳng có diệt mất, chỉ là dối gạt mắt nhìn của những kẻ phàm phu mà co.
10. Ví như biến hóa (Hoá dụ - Phạn ngữ: nirmita-upama): như những người tu tập chứng đắc các phép thần thông có thể biến hoá ra sự vật, hoặc chư thiên, loài rồng, quỷ thần... cũng có khả năng biến hoá sự vật, nhưng dù những chúng sinh ấy có khả năng biến hoá ra các hình tướng nam nữ, những hình nhân biến hóa ấy thảy đều không thật có các pháp sinh, lão, bệnh, tử, khổ, vui... Hết thảy các pháp cũng đều là như vậy, không có sinh ra, không có diệt mất đi, khác nào do biến hoá mà thành, cũng không phải thật có, cho nên nói rằng các pháp đều là không.
Mười thí dụ để chỉ rõ ý nghĩa “thân người là vô thường, không bền chắc” được dẫn trong kinh Duy-ma-cật, gồm có:
1. Thân này như bọt đọng, không thể sờ nắm.
2. Thân này như bọt nổi, không tồn tại lâu dài.
“Pháp thứ tám là vì muốn trang nghiêm thành tựu Mười sức(1) của Như Lai nên tu tập đầy đủ hết thảy các pháp ba-la-mật.
“Pháp thứ chín là vì muốn trang nghiêm thành tựu Bốn pháp không sợ sệt(2)nên theo đúng lời thuyết dạy mà thựchành.
“Pháp thứ mười là vì muốn trang nghiêm Mười tám pháp chẳng chung cùng(3)nên tùy chỗ được nghe thuyết phápthảy đều không thấy dư thừa, không sinh lòng buông thả, biếng nhác.
“Như vậy gọi là mười pháp chuyên tâm phát khởi đạo Bồ-đề Vô thượng, có thể vào được pháp môn Nhất thiết hạnh này, liền đạt được địa vị không còn thối chuyển đối với đạo Bồ-đề Vô thượng, đạt được hạnh Vô tướng, đạt được hạnh Trí đạo, thấy được tất cả các pháp đều là vô ngã, trong tâmkhông còn suy nghĩ, không sinh không diệt. Như vậy gọi là địa vị không còn thối chuyển của hàng Bồ Tát. Do đây màkhông có thối chuyển, cũng
______________
4. Thân này như cây chuối, bên trong chẳng bền chắc gì.
5. Thân này như món đồ ảo thuật, do sự xáo trộn mà sinh ra.
6. Thân này như chiêm bao, hư vọng chẳng thật.
7. Thân này như cái bóng, theo nghiệp duyên mà hiện ra.
8. Thân này như tiếng vang, phụ thuộc các nhân duyên.
9. Thân này như mây nổi, trong phút chốc đã biến mất.
10. Thân này như tia chớp, chẳng ở yên một phút nào.
(2)Bốn pháp không sợ sệt: tức Tứ vô sở úy, xem chú giải ở trang 93.
(3)Mười tám pháp chẳng chung cùng: tức Thập bát bất cộng pháp, xem chú giải ở trang 796.