Tác giả/Dịch giải: Nguyễn Minh Tiến. Hiệu đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 1135.
Ý kiến bạn đọc
“Đêm hôm ấy, vua Chuyển luân thắp lên vô lượng ức na-do-tha ngọn đèn để cúng dường Phật và đại chúng. Vua ấytự mình trên đầu đội một ngọn đèn, hai vai đặt hai ngọnđèn, hai tay cầm bốn ngọn đèn, trên hai đầu gối đặt haingọn đèn, trên hai bàn chân cũng đặt hai ngọn đèn. Đặt yênnhư vậy suốt đêm để cúng dường đức Như Lai. Nhờ oai lựccủa Phật nên tuy vua giữ yên như thế suốt đêm mà khônghề thấy mỏi mệt, thân tâm lại sảng khoái, vui vẻ như vị tỳ-kheo nhập cảnh giới thiền định thứ ba.(3)
“Vua Chuyển luân cúng dường như vậy suốt trong ba tháng.
“Bấy giờ, một ngàn người con của vua Chuyển luân và tám mươi bốn ngàn vị tiểu vương cùng với vô lượng tram ngàn ức na-do-tha dân chúng cũng đều dùng thức ăn ngon lạ cúng dường hết thảy các vị Thanh văn, giống như các
__________
(1)Lọng báu tự xoay chuyển: là những lọng báu cõi trời khi hiện ra che mát cho vị nào thì có thể tự bay theo vị ấy và tự xoay chuyển về hướng có ánh nắng để giữ cho người được che luôn mát mẻ.
(2)Dạ-xoa (Yakṣa): tên một loài quỷ, là một trong Tám bộ chúng, cũng đọc là dược-xoa, dịch theo nghĩa là “năng đạm quỷ”, vì loài quỷ này có thể ăn thịt người. Tuy nhiên, có ba loại dạ-xoa. Một loại ở dưới đất, một loại ở giữa hư không và một loại ở cõi trời. Dạ-xoa có nhiều thần lực. Trong kinh văn thường nhắc đến nhiều dạ-xoa nghe Phật thuyết pháp và phát tâm dùng thần lực để bảo vệ chánh pháp.
(3)Cảnh giới thiền định thứ ba (Đệ tam thiền): Có bốn mức thiền định của người tu tập, gọi là Tứ thiền. Người tu tập đạt đến mức thiền thứ ba này thì thân tâm tự sinh hỷ lạc, được sự vui vẻ sảng khoái bậc nhất trong Ba cõi.
“Khi ấy, nàng ngọc nữ bảo của vua Chuyển luân cũng dùng đủ mọi loại hương hoa để cúng dường, không khác gì sự cúng dường của vua Chuyển luân đối với Phật.
“Ngoài ra tất cả những chúng sinh khác cũng dùng hương hoa cúng dường, không khác gì sự cúng dường của nàng ngọc nữ bảo đối với các vị Thanh văn.
“Thiện nam tử! Khi ấy vua Chuyển luân cúng dường trải qua 3 tháng rồi, lại sai vị Chủ tạng bảo thần dâng lên đức Như Lai ngọc đầu rồng khảm trên vàng Diêm-phù-đàn,(1)tám mươi bốn ngàn bánh xe báu tốt nhất bằng vàng, cùng với voi trắng, ngựa tía, châu ma-ni quý, loại hỏa châu đẹp và tốt nhất, kể cả các báu vật là vị Chủ tạng thần và vị Chủbinh thần cai quản bốn đạo quân báu, các thành ấp nhỏ của các tiểu vương trong thành An-chu-la, cây bằng bảy báu có treo vải quý, có hoa đẹp bằng bảy báu và đủ các loại lọng báu.
“Chuyển luân Thánh vương cũng mang theo những loại y phục tốt, đủ mọi thứ vòng hoa đẹp, những chuỗi ngọc tốt, xe bằng bảy báu, các loại giường quý làm bằng bảy báu, có màn báu giăng quanh viền bằng vàng Diêm-phù-đàn với dây buộc bằng chân châu, những giày dép quý loại tốtnhất, các loại chiếu trải bằng tơ lụa tốt, những tòa ngồi tốt đẹp, chuông trống và các loại nhạc khí bằng bảy báu, khánh ngọc, cờ phướn rợp trời, đèn đuốc quý báu, các loại chim thú bằng bảy báu, những quạt báu và đủ mọi
__________
(1)Vàng Diêm-phù-đàn, Phạn ngữ là Jambunadasuvarṇa, chỉ một loại vàng rất quý hiếm, có màu vàng pha sắc đỏ. Diêm-phù-đàn là tên một con sông. Dưới đáy sông ấy người ta tìm được loại vàng này, nên gọi là vàng Diêm-phù-đàn.
“Đức vua cúng dường như vậy rồi bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Trong nước con còn nhiều việc vẫn chưa được tốt, nay con biết lỗi, rất lấy làm hối tiếc. Nguyện đức Như Lai ở lâu tại nước này để con được nhiều lần tới lui lễ bái, cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán.’
“Những người con của đức vua cũng đều đến trước tòa ngồi của Phật, mỗi người đều nguyện thỉnh Phật và chư tỳ-kheo tăng thọ nhận sự cúng dường đủ mọi thứ vật thực cần dùng trong suốt ba tháng và rất mong được đức Thế Tôn hứa nhận.
“Bấy giờ, đức Như Lai lặng thinh hứa nhận. Vua Chuyển luân biết rằng Như Lai đã hứa nhận lời thỉnh cầu của cáccon mình, liền cúi đầu lễ bái đức Phật và chư tỳ-kheo tăng,đi quanh ba vòng cung kính rồi vui vẻ ra về.
“Thiện nam tử! Trong một ngàn người con của vua Chuyển luân khi ấy, vị thái tử thứ nhất tên là Bất Huyễn, trongvòng ba tháng lo việc cúng dường đức Như Lai và chư tỳ-kheo tăng đủ mọi thứ cần dùng, mỗi thứ đều giống như sự cúng dường của Chuyển luân Thánh vương.
“Khi ấy, vua Chuyển luân mỗi ngày đều đến chỗ Phật để chiêm ngưỡng tôn nhan Phật và chư tỳ-kheo tăng, đồng thời lắng nghe và thọ nhận Chánh pháp nhiệm mầu.
“Thiện nam tử! Bấy giờ, vị đại thần là Phạm-chí Bảo Hải(1) liền đi khắp trong cõi Diêm-phù-đề để khuyến khích hết thảy mọi người từ già đến trẻ cùng nhau đóng góp
_______________
(1)Vị Phạm-chí Bảo Hải này chính là thân phụ của đức Phật Bảo Tạng.
“Khi ấy, trong khắp cõi Diêm-phù-đề, tất cả mọi người đều nghe theo lời Phạm-chí Bảo Hải, cùng nhau quy y Tambảo và phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
“Phạm-chí Bảo Hải sau khi đã khiến cho người ta nghe theo lời răn dạy, liền nhận lấy những phẩm vật cúng dường của họ. Bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải giúp cho trăm ngàn ức vô lượng chúng sinh biết sống và tu tập theo Ba điều phúc,(2)cho đến phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
“Thái tử Bất Huyễn cúng dường đức Như Lai và chư tỳ-kheo tăng suốt trong suốt ba tháng với đủ mọi thứ cần dùng,đủ tám mươi bốn ngàn viên ngọc đầu rồng khảm trên vàngtốt, duy chỉ thiếu bảy món báu vật của Thánh vương là:bánh xe báu bằng vàng, voi trắng, ngựa tía, ngọc nữ bảo,chủ tạng thần, chủ binh thần và châu ma-ni quý. Ngoài ra,những thứ có được như bánh xe vàng, voi, ngựa, loại hỏa châu đẹp và tốt nhất, cây bằng bảy báu có treo
_________
(1)Tam bảo: Ba ngôi báu, chỉ đức Phật, Chánh pháp của Phật và Tăng đoàn tu tập theo Chánh pháp, thường gọi tắt là Phật, Pháp, Tăng.
(2)Ba điều phúc: Một là Thế phúc: hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự các bậc sư trưởng, tu Mười điều lành (Thập thiện). Hai là Giới phúc: thọ trì Tam quy, Ngũ giới, cho đến thọ Cụ túc giới của bậc tỳ-kheo, giữ gìn oai nghi không hề hủy phạm. Ba là Hành phúc: Phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, tự mình tu tập và khuyên người tu hành Phật đạo. Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy rằng, người muốn vãng sinh về cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà phải tu Ba điều phúc này.
“Hết thảy những thứ như trên, mỗi thứ đều đủ số tám mươi bốn ngàn, đều dâng cúng lên đức Phật và chư tỳ-kheo tăng. Cúng dường xong liền bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Có những việc con chưa làm tốt, hôm nay xin sám hối.’
“Bấy giờ, vị vương tử thứ hai tên là Ni-ma cũng trải qua ba tháng cúng dường đức Như Lai và chư tỳ-kheo tăng, giống như sự cúng dường của Thái tử Bất Huyễn vừa kể ở trên.
“Vương tử thứ tư tên là Năng-già-la.
“Vương tử thứ năm tên là Vô Sở Uý.
“Vương tử thứ sáu tên là Hư Không.
“Vương tử thứ bảy tên là Thiện Tý.
“Vương tử thứ tám tên là Mẫn-đồ.
“Vương tử thứ chín tên là Mật-tô.
“Vương tử thứ mười tên là Nhu Tâm.
“Vương tử thứ mười một tên là Mông-già-nô.
“Vương tử thứ mười ba tên là Ma-nô-mô.
“Vương tử thứ mười bốn tên là Ma-tha-lộc-mãn.
“Vương tử thứ mười lăm tên là Ma-xà-nô.
“Vương tử thứ mười sáu tên là Vô Cấu.
“Vương tử thứ mười bảy tên là A-xà-mãn.
“Vương tử thứ mười tám tên là Vô Khuyết.
“Vương tử thứ mười chín tên là Nghĩa Vân.
“Vương tử thứ hai mươi tên là Nhân-đà-la.
“Vương tử thứ hai mươi mốt tên là Ni-bà-lô.
“Vương tử thứ hai mươi hai tên là Ni-già-châu.
“Vương tử thứ hai mươi ba tên là Nguyệt Niệm.
“Vương tử thứ hai mươi bốn tên là Nhật Niệm.
“Vương tử thứ hai mươi lăm tên là Vương Niệm.
“Vương tử thứ hai mươi sáu tên là Kim Cang Niệm.
“Vương tử thứ hai mươi bảy tên là Nhẫn Nhục Niệm.
“Vương tử thứ hai mươi tám tên là Trụ Niệm.
“Vương tử thứ hai mươi chín tên là Viễn Niệm.
“Vương tử thứ ba mươi tên là Bảo Niệm.
“Vương tử thứ ba mươi mốt tên là La-hầu.
“Vương tử thứ ba mươi hai tên là La-hầu-lực.
“Vương tử thứ ba mươi ba tên là La-hầu-chất-đa-la.
“Vương tử thứ ba mươi bốn tên là La-ma-chất-đa-la.
“Vương tử thứ ba mươi lăm tên là Quốc Tài.
“Vương tử thứ ba mươi sáu tên là Dục Chuyển.
“Vương tử thứ ba mươi bảy tên là Lan-đà-mãn.
“Vương tử thứ ba mươi tám tên là La-sát-lô-tô.
“Vương tử thứ bốn mươi tên là Viêm-ma.
“Vương tử thứ bốn mươi mốt tên là Dạ-bà-mãn.
“Vương tử thứ bốn mươi hai tên là Dạ-xà-lô.
“Vương tử thứ bốn mươi ba tên là Dạ-ma-khu.
“Vương tử thứ bốn mươi bốn tên là Dạ-đoạ-thù.
“Vương tử thứ bốn mươi lăm tên là Dạ-phả-nô.
“Vương tử thứ bốn mươi sáu tên là Dạ-sa-nô.
“Vương tử thứ bốn mươi bảy tên là Nam-ma-thù-đế.
“Vương tử thứ bốn mươi tám tên là A-lam-già-nô.
“Cả thảy có một ngàn vị vương tử con vua Chuyển luân, mỗi người đều cúng dường đức Như Lai và chư tỳ-kheo tăng trong suốt ba tháng, hết thảy các thứ cần dùng như y phục, món ăn thức uống cho đến chỗ ngủ nghỉ, thuốc men, thảy đều giống như sự cúng dường của Thái tử Bất Huyễn, mỗi món cúng dường đều đủ số tám mươi bốn ngàn.
“Nhân nơi việc cúng dường như vậy, mỗi người đều có tâm nguyện, hoặc cầu được làm Đao-lợi Thiên vương,(1) hoặc cầu làm Phạm vương,(2)hoặc cầu làm Ma vương,(3)
__________________
(1)Đao-lợi Thiên vương: vị vua ở cõi trời Đao-lợi, cũng gọi là cõi trời thứ ba mươi ba (Tam thập tam thiên), tên Phạn ngữ là Trāyastrṃśa, là cõi trời thứ hai trong sáu cõi trời của Dục giới.
(2)Phạm vương: tên Phạn ngữ là Mahābrahmā-deva, cũng gọi là Đại Phạm thiên, Phạm thiên vương hay Phạm thiên, là vị thiên chủ ở tầng trời thứ ba trong cõi Sắc giới. Có sự khác biệt về cách hiểu Phạm thiên trong đạo Bà-la-môn so với đạo Phật. Đạo Bà-la-môn xem Phạm thiên là vị Thiên chủ tự nhiên mà có và sáng tạo ra toàn thế giới, trong khi đối với Phật giáo thì Phạm thiên cũng chỉ là một chúng sinh, tuy có nhiều phước đức, được hưởng nhiều khoái lạc, nhưng vẫn chưa thoát khỏi luân hồi sinh tử, vẫn còn chịu sự chi phối của nhân quả nghiệp lực.
(3)Ma vương: là vị thiên chủ của cõi trời Tha hóa tự tại, là tầng trời thứ sáu trong