Tác giả/Dịch giải: Nguyễn Minh Tiến. Hiệu đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 1135.
Ý kiến bạn đọc
“Thiện nam tử! Như Lai xưa kia trong lúc còn tu hành đạo Bồ Tát, đã dùng các pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinhtấn, thiền định, trí huệ mà thâu nhiếp nên thần chú này, cúng dường cung kính vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức chư Phật Thế Tôn, ở nơi các đức Phật mà tu hành pháp bố thí, hoặc tu tập Phạm hạnh(1)thanh tịnh, trì giới, hoặc chuyên cần tinh tấn, hoặc tu tập nhẫn nhục, hoặc nhập tam-muội, hoặc tu tập trí huệ, hết thảy mọi pháp tu tập đều chỉ thuần là những nghiệp thanh tịnh. Vì thế nên ngày nay ta mới được trí huệ cao trổi nhất.
“Thiện nam tử! Trong quá khứ vô lượng a-tăng-kỳ(2) ức na-do-tha kiếp, khi ta tu hành đạo Bồ Tát thường luôn xa lìa những việcnói dối, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời không chân chánh.(3)Vì thế nên ngày nay ta mới được tướng lưỡi rộng dài(4)này.
“Thiện nam tử! Do nhân duyên ấy nên lời dạy của chư Phật Thế Tôn là chân thật, chẳng hề luống dối.”
______________
(1)Phạm hạnh: hạnh tu thanh tịnh, thường dùng với ý nghĩa là không phạm vào sắc dục, dâm giới.
(2)A-tăng-kỳ, Phạn ngữ là Asaṃkhya, chỉ những số lượng rất lớn, thường dịch là vô số. Các kinh văn xưa cũng đọc chữ này là a-tăng-xí-da.
(3)Nguyên tác dùng “ỷ ngữ”, chỉ hết thảy những lời có hàm ý dâm đãng, bất chánh. Các nhà dịch kinh xưa dùng “ỷ ngữ”, từ ngài Huyền Trang về sau thường dịch là “tạp uế ngữ”. Đại thừa nghĩa chương, quyển 7 viết:邪言不正,其猶綺色,從喻立稱故名綺語。(Tà ngôn bất chánh, kỳ du ỷ sắc, tòng dụ lập xưng cố danh ỷ ngữ.) Câu-xá luận, quyển 16 viết: 一切染心所發諸語名雜穢語。(Nhất thiết nhiễm tâm sở phát chư ngữ danh tạp uế ngữ.) Thành thật luận viết: 語雖實語,以非時故即名綺語。(Ngữ tuy thật ngữ, dĩ phi thời cố tức danh ỷ ngữ.) Vì người xưa hiểu
theo nghĩa quá rộng như thế nên quả thật không thể chuyển dịch hết ý. Chúng tôi đành chỉ biết tạm dịch là “lời không chân chánh”, đồng thời dẫn chú ở đây để quý độc giả tiện suy xét.
(4)Tướng lưỡi rộng dài: xem chú giải trang 89.
Những chúng sinh ở địa ngục thân thể cháy đỏ, được ánh hào quang ấy chiếu đến thì trong khoảnh khắc liền có được niềm vui trong trẻo mát mẻ. Ngay trước mặt mỗi chúng sinh ấy liền tức thời hiện ra một vị hóa Phật(2) với ba mươi haitướng tốt(3)và tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm nơi thân. Lúc bấy giờ, chúng sinh được nhìn thấy Phật nên thảy đều cảm thấy vui sướng khoan khoái, mỗi người đều nghĩ rằng chính nhờ ơn vị Phật này đã khiến cho mình được sự vui sướng. Liền đối với vị hóa Phật ấy sinh tâm hoan hỷ, chắp tay cung kính.
Bấy giờ, Phật dạy những chúng sinh ấy rằng: “Các ngươi hãy xưng niệm Nam-mô Phật, Nam-mô Pháp, Nam-mô Tăng. Nhờ nhân duyên ấy sẽ thường được sự sung sướng khoái lạc.”
Các chúng sinh ấy liền cùng nhau quỳ xuống, chắp tay vâng nhận lời Phật dạy, cùng nhau xưng niệm: “Nam-mô
______________
(1)Nguyên văn dùng diện môn, dùng để dịch chữ mukha trong Phạn ngữ. Chữ này trong các kinh được hiểu khác nhau. Nói chung có 3 nghĩa: một là chỉ miệng, hai là chỉ cả khuôn mặt nhìn từ phía trước, và ba là chỉ khoảng trên miệng, dưới mũi, tức nhân trung. Do có tướng phóng quang tiếp theo sau nên chúng tôi chọn nghĩa rộng nhất là chỉ cả khuôn mặt.
(2)Hóa Phật: hình tướng của một vị Phật được nhìn thấy do thần lực của Phật biến hóa ra. Một vị Phật có thể tùy ý thị hiện vô số hóa Phật ở khắp mọi nơi để làm các Phật sự.
(3)Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.
Có những chúng sinh đang ở trong địa ngục Hàn Đống,(1)ngay khi ấy liền có những cơn gió dịu dàng ấm áp thổi đếnchạm vào thân họ, mãi cho đến khi được thọ sinh lên cáccảnh giới trời, người cũng vẫn còn được cảm giác dễ chịu như vậy.
Những chúng sinh ở cảnh giới ngạ quỷ(2)luôn bị bức bách bởi sự khổ vì đói khát, nhờ có hào quang của Phật chiếu đến nên liền trừ dứt nỗi khổ đói khát, được sự vui sướng khoan khoái. Mỗi chúng sinh ấy cũng đều nhìn thấy một vị hóa Phật ở trước mặt, với đủ ba mươi hai tướng tốt(3)và tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm nơi thân. Nhờ được thấy Phật nên tất cả đều được vui sướng khoan khoái, đều nghĩ rằng chính nhờ ơn vị Phật này đã khiến cho mình được sự vui sướng. Liền đối với vị hóa Phật ấy sinh tâm hoan hỷ, chắp tay cung kính.
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền khiến cho những chúng sinh ấy đều được nhìn thấy mọi nhân duyên tội nghiệp của họ trước đây. Nhìn thấy rồi, họ liền sinh lòng hối tiếc, tự trách những lỗi lầm của mình. Nhờ căn lành đó nên khi mạng chung liền được sinh lên các cõi trời hoặc cõi người.
_______________
(1)Địa ngục Hàn Đống: cảnh giới địa ngục mà chúng sinh do những ác nghiệp đã tạo nên luôn phải chịu sự rét buốt khổ não cực kỳ.
(2)Ngạ quỷ: hay quỷ đói, là loài chúng sinh do ác nghiệp nên phải luôn chịu sự đói khát. Họ không thể nhìn thấy thức ăn, nước uống, hoặc khi nhìn thấy cũng không thể ăn uống được vì cổ họng rất nhỏ, hoặc do ác nghiệp của họ biến các món ăn, thức uống thành lửa đỏ, nước đồng sôi, khiến họ không thể ăn uống được.
(3)Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.
Bấy giờ, đức Thế Tôn vì chư thiên và loài người mà thị hiện cho thấy những nhân duyên trong đời trước, do đó nên có vô lượng vô biên chúng sinh tìm đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi sang một bên để lắng nghe và nhận lãnh chánh pháp nhiệm mầu.
Khi ấy có vô số chư thiên và người ta, số nhiều không thể tính đếm, cùng phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, vô số Đại Bồ Tát cùng đạt được các pháp môn Đà-la-ni, Tam-muội,Nhẫn nhục.
HẾT QUYỂN I