Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 6: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG I: BA-LA-DI. I. Bất Tịnh Hạnh: B. Giới Văn. C. Thích Từ (Trang 63 - 66)

Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo nào nói:
‘Hành nghi pháp bạch y, [4b01] nghi pháp ngoại đạo thì không gọi là xả giới.’
Nếu miệng nói: ‘tôi xả giới’, như vậy gọi là xả giới. Từ nay về sau, giới này nên nói như vầy:
 B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, cùng các Tỳ-kheo đồng học giới pháp, giới sút kém, không xả,66 hành pháp dâm dục, cho đến cùng với loài súc sanh, Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.”
C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo: Gồm Tỳ-kheo khất thực,67 Tỳ-kheo mặc y hoại sắc cắt rọc,68 Tỳ-kheo phá ác, Tỳ-kheo chân thật, Tỳ-kheo kiên cố, Tỳ-kheo thấy lỗi, Tỳ-kheo nói một lời thọ giới, Tỳ-kheo nói hai lời thọ giới, Tỳ-kheo nói ba lời thọ giới, Tỳ-kheo thiện lai thọ giới, Tỳ-kheo như pháp bạch tứ Yết-ma thọ giới.69 Như vậy gọi là Tỳ-kheo.70
 

66 Tứ phần: Giới luy bất tự hối 戒羸不自悔. Thập tụng: Giới luy bất xuất 戒羸不出. Pāli: dubbalyaṃ anāvikatvā, không tuyên bố sự bất lực của mình (không kham nổi đời sống Tỳ-kheo).
67 Khất Tỳ-kheo 乞比丘; Tứ phần (tr. 571a25): Khất cầu Tỳ-kheo 乞求比丘; Thập tụng (tr. 2b30): khất Tỳ-kheo, vì xin ăn nơi người khác. Như bà-la-môn khi đi xin ăn cũng tự nói “Ta là Tỳ-kheo”. Pāli: bhikkhakoti bhikkhu, bhikkhācaryaṃ ajjhupagatoti bhikkhu, Tỳ-kheo, là người hành khất, là người chấp nhận sống cuộc đời hành khất.
68 Hoại sắc cát tiệt y 壞色割截衣. Tứ phần: Cát tiệt y 割截衣; Pāli: bhinnapaṭadharoti bhikkhu, Tỳ-kheo, là người mặc y từ những miếng vải rách (khâu lại).
69 Tứ phần: Tỳ-kheo thọ đại giới do Bạch tứ yết-ma như pháp thành tựu hợp cách. Pāli: samaggena saṅghena ñatticatutthena kammena akuppena ṭhānārahena upasampanno ti bhikkhu, Tỳ-kheo, là người thọ Cụ túc (=đã thành tựu) với sự hợp cách không di động do bạch tứ yết-ma bởi Tăng hoà hiệp.
70 Ngũ phần không nói đến ba hạng Tỳ-kheo như trong Tứ phần: Tỳ-kheo danh tự, Tỳ-kheo tương tợ, Tỳ-kheo tự xưng.
 
Đồng học:71 Như lời Phật dạy, trọn đời không phạm. Cùng học những học xứ như vậy gọi là đồng học.
Giới pháp: Những giới đã thọ không khiếm khuyết, không phát sanh ác pháp giới, thành tựu thiện pháp giới, định cọng giới.
Giới sút kém, không xả:72 Xả giới khi ngủ, hướng đến người ngủ xả giới, không gọi là xả giới; hay xả giới khi say, hướng đến người say xả giới; xả giới khi cuồng, hướng đến người cuồng xả giới; xả giới khi tâm tán loạn, hướng đến người tâm tán loạn xả giới; xả giới khi tâm bệnh hoạn, hướng đến người tâm bệnh hoạn xả giới; hướng đến loài không phải chúng sanh, không phải người, hướng đến loài súc sanh mà xả giới; sai sứ, viết thư xả giới, ra dấu xả giới, cử động tay xả giới, nói lời tương tợ xả giới; một mình tưởng một mình,73 một mình không tưởng là một mình, không phải một mình tưởng một mình xả giới. Người nói tiếng trung châu74 hướng đến người biên địa,75 người nói tiếng biên địa hướng đến người trung châu xả giới;
 

71 Tứ phần: đồng giới 同戒; Thập tụng: đồng nhập Tỳ-kheo học pháp 同入比丘學法; Căn bản: đồng đẳng học xứ. Pāli: sikkhāsājīvasamāpanno, đã chấp nhận đời sống và học xứ (của các Tỳ-kheo); giải thích (Vin. iii. 23): sikkhā (học) chỉ cho ba học: tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ (adhisīla, adhicitta, adhipaññā); sājīvaṃ (đời sống): chỉ các học xứ mà Phật đã qui định (bhagavatā paññattaṃ sikkhāpadaṃ).
72 Giới sút kém, không xả: Giới sút kém, Hán: Giới luy 戒羸. Pāli, nt., dubbalyaṃ, sự yếu đuối (của mình). Tứ Phần: Tại sao gọi là giới sút kém mà không xả giới? Nếu Tỳ-kheo sầu ưu, không thích phạm hạnh, muốn được về nhà, nhàm chán pháp Tỳ-kheo, ôm lòng xấu hổ, ý muốn ở nhà, cho đến ưa muốn làm pháp phi Sa-môn, phi Thích tử, bèn nói như vầy: “Tôi nghĩ đến cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, xóm làng, thành ấp, ruộng vườn, ao hồ. Tôi muốn xả Phật, Pháp, Tăng, cho đến học sự.” Liền muốn thọ trì gia nghiệp, cho đến, phi Sa-môn, phi Thích tử. Như vậy gọi là giới sút kém mà không xả giới.
73 Tứ phần: Tĩnh tưởng 靜想: tưởng là tĩnh; Căn bản: Độc tĩnh xứ 獨靜處, chỗ vắng vẻ một mình.
74 Người nói tiếng trung châu, Hán: Trung quốc ngữ 中國語. Pāli. ariyakena, người nói tiếng quí phái.
75 Người biên địa 邊地人. Pāli. milakkhaka, người quê mùa.
 
vui đùa xả giới, nói lời bất định xả giới, tâm giận xả giới, cưỡng bức xả giới, không hướng đến người xả giới mà nói xả giới,76 tất cả đều không gọi là xả giới. Không nói lên lời xả giới thì không gọi là xả giới. Như vậy gọi là không xả giới. Ngược lại trên thì gọi là xả giới.
Hoặc giới sút kém chẳng phải xả giới, hoặc xả giới chẳng phải giới sút kém, hoặc giới sút kém cũng xả giới, hoặc chẳng phải giới sút kém chẳng phải xả giới.
Thế nào là giới sút kém mà chẳng phải xả giới? Nếu Tỳ-kheo không thích tu Phạm hạnh, không thích tu Phạm hạnh rồi mà còn kính Phật, Pháp, Tăng, kính giới, kính Sa-môn pháp, kính Tỳ-kheo pháp, kính Tỳ-ni, kính Ba-la-đề-mộc-xoa, kính Hòa thượng, A-xà-lê, đồng Hòa thượng A-xà-lê, kính người đồng Phạm hạnh,77 không hủy báng Tam tôn, mà nhớ xóm làng, vườn tược, ao hồ, núi rừng, cây cối, cha mẹ, anh chị em, con trai, con gái cho đến nô tỳ... nhớ nghĩ như vậy sầu ưu không vui, mà suốt đời không phạm đến Phạm hạnh. Như vậy gọi là giới sút kém mà chẳng phải xả giới.
Thế nào là xả giới mà chẳng phải giới sút kém? Nếu Tỳ-kheo [4c01] không thích tu Phạm hạnh, không thích tu Phạm hạnh rồi mà còn kính Phật... cho đến kính người đồng Phạm hạnh. Vị ấy nghĩ như vầy: “Muốn làm Sa-di, hoặc Ưu-bà-tắc, cho đến muốn làm Phạm-chí ngoại đạo, chẳng phải Sa-môn Thích tử”. Lại nghĩ như vầy: “Nay ta muốn xả Phật, Pháp, Tăng, xả giới, xả Tỳ-ni, xả Ba-la-đề-mộc-xoa, xả Hòa thượng, A-xà-lê, đồng Hòa thượng A-xà-lê, xả người đồng Phạm hạnh, rồi liền nói như vầy: “Nay tôi xả Phật, dụng Phật làm gì? Phật có nghĩa gì? Nay tôi được thoát khỏi Phật”, cho đến nói như vầy: “Nay tôi được thoát khỏi người đồng Phạm hạnh”. Lại nói như vầy: “Tôi thích hợp với nếp sống chẳng phải Sa-môn Thích tử”. Phỉ báng Phật, Pháp, Tăng như vậy, cho đến phỉ báng người đồng Phạm
 

76 Để bản: Bất ưng hướng xả giới, nhi hướng xả giới, 不應向捨戒, 而向捨戒.
77 Đồng phạm hạnh 同梵行 hay chư phạm hạnh 諸梵行; (Pāli: sabrahmacārin) đây chỉ các Tỳ-kheo đồng học, hay bạn đồng tu.
 
hạnh, mà hướng về người khác, tâm nghĩ miệng nói những lời như vậy thì gọi đó là xả giới chứ chẳng phải giới sút kém.
Thế nào gọi là giới sút kém cũng là xả giới? Nếu Tỳ-kheo không thích tu Phạm hạnh, ít kính Phật, Pháp, Tăng, cho đến ít kính người đồng Phạm hạnh, nhớ nghĩ xóm làng cho đến nô tỳ, nghĩ như vầy: “Nay ta muốn xả Phật, Pháp, Tăng cho đến xả người đồng Phạm hạnh”, rồi liền nói như vầy: “Nay tôi xả Phật. Dụng Phật làm gì? Phật có nghĩa gì? Nay tôi được thoát khỏi Phật, cho đến thoát khỏi người đồng Phạm hạnh”. Lại nói như vầy: “Tôi thích sống với nếp sống chẳng phải Sa-môn Thích tử”. Hủy báng Phật, Pháp, Tăng như vậy, cho đến hủy báng người đồng Phạm hạnh, mà hướng về người khác, tâm nghĩ miệng nói những lời như vậy thì gọi là giới sút kém cũng là xả giới.
Thế nào gọi là chẳng phải giới sút kém, chẳng phải xả giới? Nếu Tỳ-kheo đối với giới đã thọ, kiên trì không xả, không động, không chuyển. Đó gọi là chẳng phải giới sút kém, chẳng phải xả giới.
Hành pháp dâm dục: Pháp dâm dục tức là chẳng phải pháp Phạm hạnh,78 là pháp giải đãi, là pháp chó, là pháp đáng ghét. Hai thân giao hội, xuất bất tịnh, đó gọi là hành pháp dâm dục.
Ba-la-di:79 Tức là pháp đọa, pháp ác, pháp đoạn đầu, chẳng phải pháp của Sa-môn.
 

78 Phạm hạnh (Skt.=Pāli: brahmacariya) nguyên nghĩa, sống cuộc đời (đoạn dục để) phụng sự Phạm thiên. Trong Phật giáo, chỉ sự đoạn trừ dâm dục. Luận trí độ 20: “Chư thiên đoạn trừ dâm dục đều được gọi là Phạm.”
79 Tăng-kỳ (tr. 237b24): “Ba-la-di, là đối với pháp trí mà thối thất, đọa lạc, không có đạo quả phần.” Tứ phần (tr. 571c6): “Ba-la-di, ví như cái đầu của con người đã bị chặt thì không thể mọc trở lại.” Thập tụng (tr. 4b13): “Ba-la-di, là đọa lạc, không bằng 墮不如; là tội cực ác, sâu nặng.” Căn bản (tr. 630c6): “Ba-la-thị-ca 波羅市迦, là tội cực trọng, rất đáng ghê tởm, rất đáng bị ruồng bỏ... mất thể tính Bí-sô, trái ngược với thể tính Niết-bàn; là sự đọa lạc, sụp đổ, bị kẻ khác đánh bại không còn cứu được nữa.” Pāli, Vin.iii. 28: pārājiko hotī ti seyyathāpi nāma puriso sīrascchinno abhobbo tena sarīrabandhanena jīvituṃ, “Pārājika, người phạm Ba-la-di, như một người mà cái đầu đã bị chặt, không thể sống với thân được ráp nối lại.”
 
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »