Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo nào nói:
‘Hành nghi pháp bạch y, [4b01] nghi pháp ngoại đạo thì không gọi là xả giới.’
Nếu miệng nói: ‘tôi xả giới’, như vậy gọi là xả giới. Từ nay về sau, giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, cùng các Tỳ-kheo đồng học giới pháp, giới sút kém, không xả,66 hành pháp dâm dục, cho đến cùng với loài súc sanh, Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.”
C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo: Gồm Tỳ-kheo khất thực,67 Tỳ-kheo mặc y hoại sắc cắt rọc,68 Tỳ-kheo phá ác, Tỳ-kheo chân thật, Tỳ-kheo kiên cố, Tỳ-kheo thấy lỗi, Tỳ-kheo nói một lời thọ giới, Tỳ-kheo nói hai lời thọ giới, Tỳ-kheo nói ba lời thọ giới, Tỳ-kheo thiện lai thọ giới, Tỳ-kheo như pháp bạch tứ Yết-ma thọ giới.69 Như vậy gọi là Tỳ-kheo.70
66 Tứ phần: Giới luy bất tự hối 戒羸不自悔. Thập tụng: Giới luy bất xuất 戒羸不出. Pāli: dubbalyaṃ anāvikatvā, không tuyên bố sự bất lực của mình (không kham nổi đời sống Tỳ-kheo).
67 Khất Tỳ-kheo 乞比丘; Tứ phần (tr. 571a25): Khất cầu Tỳ-kheo 乞求比丘; Thập tụng (tr. 2b30): khất Tỳ-kheo, vì xin ăn nơi người khác. Như bà-la-môn khi đi xin ăn cũng tự nói “Ta là Tỳ-kheo”. Pāli: bhikkhakoti bhikkhu, bhikkhācaryaṃ ajjhupagatoti bhikkhu, Tỳ-kheo, là người hành khất, là người chấp nhận sống cuộc đời hành khất.
68 Hoại sắc cát tiệt y 壞色割截衣. Tứ phần: Cát tiệt y 割截衣; Pāli: bhinnapaṭadharoti bhikkhu, Tỳ-kheo, là người mặc y từ những miếng vải rách (khâu lại).
69 Tứ phần: Tỳ-kheo thọ đại giới do Bạch tứ yết-ma như pháp thành tựu hợp cách. Pāli: samaggena saṅghena ñatticatutthena kammena akuppena ṭhānārahena upasampanno ti bhikkhu, Tỳ-kheo, là người thọ Cụ túc (=đã thành tựu) với sự hợp cách không di động do bạch tứ yết-ma bởi Tăng hoà hiệp.
70 Ngũ phần không nói đến ba hạng Tỳ-kheo như trong Tứ phần: Tỳ-kheo danh tự, Tỳ-kheo tương tợ, Tỳ-kheo tự xưng.