C. THÍCH TỪ
Cố ý xuất bất tịnh:8 Móng tâm, động thân làm cho bất tịnh xuất.
Tăng-già-bà-thi-sa:9 Tội này còn một chút cơ hội sót lại, có thể trị được là phải cần cầu, nhờ cậy vào giữa Tăng để trừ diệt.
Bất tịnh có 10 loại:10
1. Sắc xanh, 2. Sắc vàng, 3. Sắc hồng, 4. Sắc đen, 5. Sắc đỏ, 6. Sắc trắng, 7. Màu sữa,11 8. Màu bơ,12 9. Màu dầu, 10. Màu mật.
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu móng tâm động thân, muốn xuất (bất tịnh)* màu xanh, mà xuất màu vàng, cho đến màu mật, đều Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu móng tâm động thân muốn xuất (bất tịnh)* màu vàng, cho đến màu mật, mà xuất các màu khác cũng như vậy.
8 Tứ phần: cố lộng âm xuất tinh 故弄陰出精. Tăng-kỳ, Thập tụng: cố xuất tinh 故出精. Căn bản 11: Cố tiết tinh. Pāli: sañcetanikā sukkavisaṭṭhi, cố ý làm xuất tinh.
9 Tăng-già-bà-thi-sa: Skt. saṃghāvaśeṣa, Pāli. Saṃghādisesa, lược dịch là Tăng-tàn, nghĩa là còn sót lại, dư tàn, tàn tật…. Căn bản 11, tr. 681b6, T23n1442: Tăng-già-phạt-thi-sa, Tăng-già là phạm tội này phải nhờ Tăng-già hướng dẫn sám hối… Phạt-thi-sa là dư tàn… đối với 13 pháp này, Bí-sô tuy phạm mà có dư tàn, chữa trị được, nên gọi là Tăng tàn. Thiện kiến 12, tr. 760a27, T22n1462: Tăng-già-bà-thi-sa, Tăng-già là chỉ cho Tăng, bà nghĩa là bắt đầu, thi-sa là tàn... Tỳ-kheo phạm tội này, nếu muốn thanh tịnh thì đến gặp chúng Tăng, Tăng cho pháp Ba-lợi-bà-sa (Parivāsa, biệt trú), gọi là bắt đầu. Sau đó, hành 6 đêm Ma-na-đỏa (Mānatta, hoan hỷ), đó là khoảng giữa. Giai đoạn cuối cùng là cho pháp a-phù-ha-na (Abbhāna, xuất tội), đó gọi là Tăng-già-bà-thi-sa.
10 Tăng-kỳ 5: Tám loại. Tứ phần: Bảy loại. Thập tụng: Năm loại. Căn bản 11: Năm loại. Pāli, 10 loại: nīlaṃ pītakaṃ lohitaaṃ oḍātaṃ takkavaṇṇaṃ dakavaṇṇaṃ telavaṇṇaṃ khīravaṇṇaṃ dadhivaṇṇaṃ sappivaṇṇaṃ; không giải thích chi tiết.
11 Hán: Nhũ 乳. Tứ phần: Lạc sắc 酪色, tức Pāli. dadhivaṇṇamṃ, màu sữa đặc.
12 Hán: Tô 酥. Tứ phần: Lạc tương sắc 酪漿色, tức Pāli. sappivaṇṇaṃṃ, màu thục tô hay đề hồ, màu bơ trong.
Có 10 loại móng tâm động thân xuất bất tịnh đều phạm Tăng-già-bà-thi-sa:
Một, là tự thử. Hai, là trừ bệnh. Ba, là vì nhan sắc. Bốn, là vì sức lực. Năm, là vì vui thích. Sáu, là vì bố thí. Bảy, là vì sanh thiên. Tám, là vì hội tế trời ngoại đạo. Chín, là vì làm giống. Mười, là vì thờ lửa.
Có 5 loại móng tâm động thân xuất bất tịnh đều phạm Tăng-già-bà-thi-sa: Nội sắc, ngoại sắc, hư không, gió, nước.
- Nội sắc: Tự thân mình.
- Ngoại sắc: Thân người khác.
- Hư không: Động thân giữa hư không.
- Gió: Hướng ngược gió để làm.
- Nước: Hướng ngược nước để làm.
Lại có 5 loại móng tâm động thân xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa: Đầy đại tiện, đầy tiểu tiện, đầy gió, trùng cắn, dục thịnh.
Nếu móng tâm, thân không động, không xuất bất tịnh; móng tâm, thân không động, xuất bất tịnh…, đều phạm Đột-kiết-la.
Móng tâm, thân động, không xuất bất tịnh, phạm Thâu-lan-giá.
Không móng tâm, thân động, không xuất bất tịnh; không móng tâm, thân động, xuất bất tịnh; không móng tâm, thân không động, không xuất bất tịnh, đều không phạm.
Khi ngủ xuất bất tịnh, khi thức dậy móng tâm, thân động, phạm Thâu-lan-giá.
Khi ngủ thân động, khi thức dậy móng tâm, xuất bất tịnh, phạm Đột-kiết-la.
Khi ngủ móng tâm, khi thức dậy thân không động, xuất bất tịnh, không phạm.
Sa-di, phạm Đột-kiết-la.