Vẫn trả lời như trước, rồi Tỳ-kheo liền đi. Sau đó, Tỳ-kheo-ni bị giặc cướp lột y phục, lõa hình, gọi lớn: “Giặc lột đồ con! Giặc lột đồ con!”
Tỳ-kheo kia từ xa nghe, về đến trú xứ, đến nói với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo, nếu gặp chỗ nguy hiểm, nghi ngờ có sự khủng bố, được đi với Tỳ-kheo-ni cùng đường. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, hẹn trước với Tỳ-kheo-ni, đi cùng đường, từ tụ lạc này đến tụ lạc kia, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Nhân duyên:148 Hoặc có nhiều bạn, chỗ có sự nghi ngờ, gọi là nhân duyên.
Nếu Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni đã hẹn trước đi cùng đường; chỗ không có tụ lạc, thì nửa do-tuần149 phạm Ba-dật-đề. Nếu cùng Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni trước hẹn đi cùng đường cũng như vậy. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
XXIX. ĐI CHUNG THUYỀN VỚI TỲ-KHEO-NI150
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở thành Xá-vệ.151 Bấy giờ, các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni152 ở nước Ma-kiệt-đề cùng du hành trên thuyền, hoặc một Tỳ-kheo với
148 Tứ phần: Cùng đi với khách buôn; hoặc khi có nghi ngờ, có kinh sợ.
149 Do-tuần: Xem cht. 104, Ch. i, Ba-la-di 2.
150 Tăng-kỳ 15, tr. 349a02: Ba-dật-đề 27; Tứ phần 13, tr. 652c12: Ba-dật-đề 28; Thập tụng 12, tr. 83c11: Ba-dật-đề 25; Căn bản 33, tr. 806a19: Ba-dật-đề 27. Vin. iv. 62. Pāc. 27, saṃvidhāna.
151 Tăng-kỳ 15, tr. 349a02; Tứ phần 13, tr. 652c12; Thập tụng 12 tr. 83c11: Xá-vệ thành(quốc) 舍衛城(國). Căn bản 33, tr. 806a19: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
152 Thập tụng 12: Các Tỳ-kheo-ni đồng bọn của Đề-bà-đạt-đa.