phạm Ba-dật-đề? Có làm xuất tội hối quá, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo lén nghe tranh biện lý sự phải quấy mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tranh đấu nhau rồi lén nghe, nghĩ như vầy: Những gì các Tỳ-kheo nói, ta sẽ ghi nhớ, Ba-dật-đề.”317
Lén nghe Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nói, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni nghe Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nói, Ba-dật-đề; nghe Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nói, Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nghe lén năm chúng nói, Đột-kiết-la.
LXI. TRUYỀN CỤ TÚC CHO NGƯỜI CHƯA ĐỦ TUỔI 20318
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.319 Bấy giờ, nhóm mười bảy đồng tử,320 cha mẹ rất mực thương yêu. Người mẹ nói như vầy:
“Con ta không quen chịu khó nhọc, thể tánh yếu đuối, nên bảo nó học nghề nào cho được sung sướng trọn đời.”
317 Tứ phần: Tỳ-kheo nào, sau khi các Tỳ-kheo cùng tranh cãi nhau, nghe lời người này đem qua nói với người kia, Ba-dật-đề.
318 Tăng-kỳ 19, tr. 383a12: Ba-dật-đề 70; Tứ phần 17, tr. 679a21: Ba-dật-đề 65; Thập tụng 16, tr. 116b07, Căn bản 41, tr. 853a09: Ba-dật-đề 72. Pāli, Pāc. 65, Ūnavīsativassa.
319 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành舍衛城; Tứ phần: La-duyệt thành羅閱城; Thập tụng: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
320 Tăng-kỳ 19 (tr.383a14): Nhân duyên bởi “Thập lục quần Tỳ-kheo,” và cha con Ma-ha-la. Các bộ khác như Ngũ phần.
Người cha nói:
“Nên bảo nó học kế toán, hội họa.”
Người mẹ nói:
“Bảo nó học hội họa sợ nó hư con mắt, bảo nó học kế toán sợ nó đau ngón tay, rồi đi đến đau tim.”
Cha mẹ chúng cùng bàn tính:
“Nên bảo nó xuất gia trong dòng họ Thích, đời này khỏi phải làm gì, đời sau được sướng mãi mãi.”
Nhóm mười bảy đồng tử đều muốn xuất gia, chúng cùng nhau bàn:
“Chúng ta cần chờ Ưu-ba-ly đến để từ biệt nhau.”
Khi Ưu-ba-ly đi trở về đến chỗ các đồng tử, các đồng tử nói:
“Bạn có biết chăng! Chúng tôi muốn xuất gia trong giáo pháp của Như Lai, chờ bạn để từ biệt.”
Ưu-ba-ly nghe, cũng thích cùng đi xuất gia, liền trở về xin cha mẹ. Cha mẹ liền cho phép, và nghĩ như vầy: “Nay ai sẽ làm thầy nó?”
Lại nghĩ như vầy: “Tất-lăng-già-bà-ta đem nó từ trong tay giặc trở về, nay nên cho làm đệ tử.”
Họ liền đưa con mình đến Tất-lăng-già-bà-ta thưa rằng:
“Bạch Đại đức, Đại đức đối với đứa nhỏ này có đại ân, nay xin dâng cho ngài, ngài hãy nhận làm đệ tử.”
Tất-lăng-già-bà-ta liền độ nó, cho thọ giới Cụ túc. Thọ giới rồi, ban đêm không thể một mình đến nhà vệ sinh và nơi rửa tay, thường tự (Tất-lăng-già-bà-ta)* dẫn nó. Có khi trong tối, thấy thầy mà không biết, liền gọi là quỉ, thất thanh kêu lớn:
[61b01] “Tỳ-xá-giá! Tỳ-xá-giá! (ma! ma!)”
Thầy nói:
“Đừng sợ, ta chứ không phải ma đâu.”
Hoặc ban đêm đòi ăn, thầy nói:
“Tăng có thức ăn, sáng sớm sẽ cho con.”
Đồng tử hỏi:
“Nếu Tăng không có thức ăn thì sẽ có được ở đâu?”
Thầy nói:
“Nếu Tăng không có thì sẽ đi xin.”
Nghe những lời này rồi, bèn khóc lớn, nói:
“Tỳ-kheo khất thực trở về thì chúng con đã chết rồi.”
Ban đêm, đức Phật nghe tiếng khóc, thời hỏi tôn giả A-nan:
“Đó là tiếng khóc của ai?”
Tôn giả trình bày đầy đủ việc này lên đức Phật. Nhân việc này, sáng sớm đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tất-lăng-già-bà-ta:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách:
“Ngươi không nên cho người chưa đủ hai mươi tuổi thọ giới Cụ túc. Người chưa đủ hai mươi tuổi phần nhiều không thể kham nhẫn, có thể đưa đến việc phá giới.”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cho người chưa đủ hai mươi tuổi thọ giới Cụ túc, Ba-dật-đề.”