“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, vào tụ lạc phi thời, Ba-dật-đề”.
Có các Tỳ-kheo có duyên sự cần vào tụ lạc lúc phi thời mà không dám vào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Nay cho phép có duyên sự, được vào tụ lạc lúc phi thời. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào,405 phi thời vào tụ lạc, không báo với thiện Tỳ-kheo ở gần, trừ nhân duyên,406 Ba-dật-đề”.
C. THÍCH TỪ
Nhân duyên: Là khi có nạn, đó gọi là nhân duyên.
Sa-di, Đột-kiết-la. Nếu trên đường đi, đi qua tụ lạc, hoặc chiều tối cần phải nghỉ đêm, hay là có tám nạn khởi, đều không phạm.
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.408 Bấy giờ, cách thành không xa có một cây Thần,409 nhiều người phụng thờ. Thời gian tiết hội, đến bảy
405 Tăng-kỳ: “Tỳ-kheo a-lan-nhã.” Điều luật áp dụng cho Tỳ-kheo sống trong rừng.
406 Tăng-kỳ: “Trừ dư thời.” Giải thích: Dư thời, những lúc có việc khẩn cấp (như có người bị rắn độc cắn). Pāli: aññatra tathārūpā accāyikā karaṇīyā, trừ có sự việc khẩn cấp nào đó.
407 Tăng-kỳ 20, tr. 392a08: Ba-dật-đề 84; Tứ phần 19, tr. 693b17: Ba-dật-đề 85; Thập tụng 18, tr. 127b22, Căn bản 49, tr. 895b28: Ba-dật-đề 86; Pāli, Pāc. 88 Tūlonaddha.
408 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ quốc; Thập tụng: Vương Xá thành; Căn bản: Thất-la-phạt thành.
409 Hán: Thần thọ 神樹. Pāli: Cetiyarukkha, miếu thờ thần cây.