“Ngươi là kẻ ngu si, tại sao muốn ở yên trong hầm sanh tử, mà không có ý mong cầu ra khỏi?! Ngươi không nên tự sử dụng giường cao sang, trang sức bằng gấm vóc. Ai phạm, Đột-kiết-la.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tự mình làm ngọa cụ, giường dây, giường gỗ, chân nên cao bằng tám ngón tay của Tu-già-đà,413 trừ khúc vào lỗ mộng, nếu quá, Ba-dật-đề”.
Nếu tự mình làm giường hay sai người làm, nếu cao (hơn mức qui định)* đều phải cắt bỏ, rồi mới sám hối tội. Nếu nhận được giường cho, mà cao thì khi nhận phải nghĩ như vầy: “Giường này không như pháp, ta sẽ cắt bỏ”. Nếu không nghĩ như vậy mà nhận, Ba-dật-đề. Trước hết, nên cắt bỏ, rồi sau mới sám hối.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở thành Vương Xá.415 Bấy giờ, các Tỳ-kheo dùng xương, răng, sừng làm ống đựng kim. Họ tìm kiếm khắp nơi, kể cả trong rác rưởi, để tạo ra nó. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
413 Tám ngón tay của Tu-già-đà. Căn bản: của Phật; và giải thích: 8 ngón tay (chỉ 指) của Phật dài bằng 1 khuỷu (chẩu 肘) của người trung bình. Pāli: sugataṅgula: ngón tay của Sugata (Thiện Thệ). Cước chú của bản dịch Anh: sugata đây có nghĩa là “tiêu chuẩn” được chấp nhận (không phải chỉ cho ngón tay của Phật).
414 Tăng-kỳ 20, tr. 391a08: Ba-dật-đề 82; Tứ phần 19, tr. 693c09: Ba-dật-đề 86; Thập tụng 18, tr. 127a23, Căn bản 49, tr. 894a16: Ba-dật-đề 84. Pāli, Pāc. 86 Sūcighara.
415 Tứ phần: La-duyệt thành; Tăng-kỳ; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.