Nếu thưa bạch đến nhà A mà đến nhà B, thì không gọi là thưa bạch. Nếu không thưa mà đến các gia đình, một chân vào trong cửa, Đột-kiết-la; hai chân vào trong cửa, Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu bạch đến một nhà, nhân đó đến một nhà khác thì không phạm. Nếu không có Tỳ-kheo để có thể thưa bạch cũng không phạm.
LXXXIII. PHI THỜI VÀO XÓM402
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật du hóa tại nước Câu-tát-la403 cùng đầy đủ đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Các Tỳ-kheo, hoặc nhận được phòng để ngủ, hoặc dưới bóng cây, hoặc nơi đất trống. Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo vừa sáng sớm đã khoác y bưng bát, ở trong đường hẻm, nói chuyện thế sự với các bạch y404 cho đến sẩm tối. Người đi đường thấy, cơ hiềm nói:
“Chỗ này không phải là chỗ người xuất gia bàn chuyện, sao không ở nơi A-lan-nhã thủ nhiếp các căn?!”
Hoặc có người nói: “Những vị này không ưa Phật pháp, không kính giới luật, được nơi nói chuyện vui đùa là quên cả thời gian.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
402 Tăng-kỳ 20, tr. 389a02: Ba-dật-đề 79; Tứ phần 19, tr. 692c11: Ba-dật-đề 83; Thập tụng 17, tr. 121c02, Căn bản 42, tr. 860a17: Ba-dật-đề 80. Pāli, Vin. iv. 164, Pāc. 85 Vikālagāmappavisana.
403 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
404 Tứ phần: “Cùng các cư sĩ đánh cờ (xu bồ 樗蒱)”. Pāli: sabhāyaṃ nisīditvā anekavihitaṃ tiracchānakathaṃ kathenti, ngồi ở hội trường, bàn đủ các đề tài súc sinh luận.