Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 11: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG I: BA-LA-DI. II. Bất Dữ Thủ: D. Phạm Tướng (Trang 78 - 82)

Không cho mà lấy: Hoặc tự mình lấy, hay sai người lấy, vật rời khỏi chỗ cũ.
Vua: Chủ nước, chủ thôn xóm, vua Quán đảnh, vua Chuyển luân.
Đại thần: Là vị trông coi việc nước.
Bắt: Nắm tay hay nắm tóc.
Trói: Dùng gông cùm, xiềng xích.
Giết: Dùng dao trượng v.v... để chấm dứt mạng sống.
Đuổi: trục xuất khỏi một trú xứ, cho đến một nước.
Giặc: Xa lìa pháp thiện, pháp vô ký, rơi vào chỗ bất thiện.
Tiểu: Không có sự hiểu biết. [6b01]
Si: Sống trong sự tối tăm.
D. PHẠM TƯỚNG
 Phạm ở đây: Vật ở trong đất, vật ở trên đất, vật ở trong hư không; xóm làng, vật của xóm làng; tiệm, quán, vật của tiệm quán; ruộng đất, vật của ruộng đất; vườn tược, vật của vườn tược; phòng xá, vật của phòng xá; xe cộ, vật của xe cộ; gánh xách, vật của gánh xách; thuyền bè, vật của thuyền bè; ao hồ, vật của ao hồ; gởi, trả, ngăn đường, rình đường, chỉ chỗ, dẫn đường, dạy cách lấy, cùng lấy, không nộp thuế.
Vật trong lòng đất:108 Nếu vật còn ở trong lòng đất, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm vật này”, khởi tâm và tạo điều kiện đều phạm Đột-kiết-la.
Đào đất phạm Ba-dật-đề. Nắm vật phạm Đột-kiết-la. Động đến vật phạm Thâu-lan-giá. Lìa khỏi chỗ cũ mà trị giá 5 tiền109 phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
 

108 Tứ Phần, Địa xứ 地處. Pāli: bhūmaṭṭhaṃ.
109 Ngũ tiền 五錢; Tăng-kỳ (tr. 244b1): Vương pháp không nhất định. Hoặc trộm nhỏ mà chết. Hoặc trộm lớn mà không chết. Theo phép vua Bình-sa, 19 tiền là 1 kế-lị-sa-bàn (Pāli: kahāpaṇa); 1 kế-lị-sa-bàn phân làm tư; trộm vật giá trị ¼ thì bị tội chết. Căn bản: ngũ ma-sái 五摩灑. Pāli, Vin.iii. tr.48: pañcamāsakaṃ. Theo nghĩa đen, 1 māsaka (Skt. māṣaka) là vật có giá trị trao đổi bằng 1 hạt đậu (đỗ).
 
Vật ở trên đất:110 Vật ở trên đất như giường, giá, ghế, sập, cửa, cây xà ngang, đòn tay, rui mè, cho đến vật trên nhà, trên cây. Tất cả các vật như vậy đều gọi là vật trên đất. Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ lấy vật này”, mống tâm tạo phương tiện cho đến nắm lấy vật đều phạm Đột-kiết-la, động đến vật phạm Thâu-lan-giá, vật rời khỏi chỗ cũ trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Vật ở trên hư không:111 Hoặc dùng thần lực đặt vật trong hư không, hoặc có chủ, hoặc chim tha, hoặc gió thổi đến, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ lấy vật này”, móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Động đến vật phạm Thâu-lan-giá. Dời vật khỏi chỗ cũ trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Thôn xóm: Xung quanh 3 do-tuần, cho đến chỗ một cái nhà, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Tôi sẽ trộm lấy thôn xóm này”. Móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Đóng nọc, lấy vồ nện phạm Ba-dật-đề. Dùng dây đo lường tranh cho được, trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Vật trong thôn xóm:112 Tùy theo trong xóm làng có vật gì, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ lấy trộm vật này”, lấy được phạm Ba-la-di.
 

110 Tứ phần: Địa thượng xứ 地上處. Pāli: thalaṭṭhaṃ, vật trên đất liền.
111 Không xứ 空處; Ngũ phần: Hư không vật 虛空物, chỉ vật được đặt vào hư không do bởi thần lực, hoặc vật ngậm bởi chim có chủ, hoặc vật có chủ mà gió thổi đến. Tăng-kỳ: Hư không hư không trung vật 虛空虛空中物, chỉ các loại cây lá, hoa quả. Thập tụng: các loại vải quý giá, vải ba-đầu-ma, đầu-cầu-la, cưu-la-xà, những thứ này được treo mà chưa rơi xuống đất. Pāli: ākāsaṭṭhaṃ, vật trong hư không, chỉ những vật phi hành trong hư không (ākāsagataṃ): chim chóc, giải lụa, vải vóc, cho đến vàng (từ trên người) bị rơi xuống đất.
112 Pāli: gāmaṭṭhaṃ, trong thôn xóm, vật được cất tại bốn chỗ: trong đất (bhūmaṭṭhaṃ), trên đất liền (thalaṭṭhaṃ), trong hư không (ākāsaṭṭhaṃ), trong khoảng trống (vehāsaṭṭhaṃ).
 
Tiệm quán: Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ lấy trộm tiệm quán này”. Móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Đóng nọc, lấy vồ nện phạm Ba-dật-đề. Dùng dây đo lường tranh cho được, Ba-la-di.
Vật nơi tiệm quán:113 Tùy theo trong tiệm quán có vật gì, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ lấy trộm vật này”, lấy được, Ba-la-di.
Ruộng: Chỉ ruộng có nước hay không nước, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ lấy trộm ruộng này”. Móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Đóng nọc, lấy vồ nện phạm Ba-dật-đề. Lấy dây đo để tranh cho được, phạm Ba-la-di.
Vật trong ruộng: Tùy trong ruộng sản xuất ra ngũ cốc, [6c01] Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm vật này”, lấy được phạm Ba-la-di.
Vườn: Các vườn trồng cây trái, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm vườn này”. Móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Đóng nọc, lấy vồ nện phạm Ba-dật-đề. Dùng dây đo để tranh cho được, phạm Ba-la-di.
Vật trong vườn: Tùy trong vườn sản xuất vật gì, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Tôi sẽ trộm lấy vật này”, lấy được, phạm Ba-la-di.
Nhà: Nhà trệt hoặc nhà lầu, nơi mà người tại gia hay xuất gia ở. Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Tôi sẽ trộm lấy nhà này”. Móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Đóng nọc, lấy vồ nện phạm Ba-dật-đề. Dùng dây đo để tranh cho được, phạm Ba-la-di.
Vật trong nhà: Tùy theo trong nhà có vật gì, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm lấy vật này”, lấy được phạm Ba-la-di.
Xe:114 Chỉ chung các loại xe như xe voi, xe ngựa, xe cộ và các loại,  Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm lấy xe này”. Móng tâm, tạo phương
 

113 Tứ phần: Chỉ chung cho Xứ sở 處所, chỉ phạm vi cư trú của người trong đó có tiệm quán, tức vật trong khu vực có người ở. Pāli: vihāraṭṭhaṃ, vật trong khu vực cư trú, có bốn chỗ: Như trong đất (bhūmaṭṭhaṃ), trên đất liền (thalaṭṭhaṃ), trong hư không (ākāsaṭṭhaṃ), trong khoảng trống (vehāsaṭṭhaṃ).
114 Tứ phần, thừa 乘, cũng đọc là thặng. Pāli: yānaṃ yānaṭṭhaṃ xe cộ và vật trong/trên xe cộ.
 
tiện, cho đến nắm cầm đều phạm Đột-kiết-la. Động đến vật, phạm Thâu-lan-giá. Vật lìa khỏi chỗ trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Vật trong xe:115 Tùy theo trên xe có vật gì, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm lấy vật này”, lấy được phạm Ba-la-di.
Gánh: Đội trên đầu, gánh nơi vai, vác nơi lưng, xách nơi tay đều gọi là gánh cả. Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm gánh này”. Móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Động đến vật, phạm Thâu-lan-giá. Dời vật khỏi chỗ trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Vật của gánh: Tùy theo trong gánh có những vật gì, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm lấy vật này”, lấy được phạm Ba-la-di.
Thuyền: Thuyền bằng da, thuyền bằng đất nung, thuyền bằng gỗ, thuyền nang tất cả đều gọi là thuyền. Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ lấy trộm thuyền này”. Móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Động đến vật phạm Thâu-lan-giá. Vật rời khỏi chỗ trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Vật trong thuyền: Tùy theo trong thuyền có những vật gì, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm lấy vật này”, lấy được phạm Ba-la-di.
Ao: Tất cả hồ, vũng chứa nước đều gọi là ao. Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ trộm lấy ao này”. Móng tâm, tạo phương tiện đều phạm Đột-kiết-la. Đóng nọc, lấy vồ nện đều phạm Ba-dật-đề. Dùng dây đo để tranh cho được, trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Vật trong ao: Tùy theo trong ao có sản xuất thứ gì, Tỳ-kheo có ý nghĩ: “Ta sẽ lấy trộm vật này”, lấy được phạm Ba-la-di.
 

115 Xem cht. trên.
 
[7a01] Gởi: Người đem gởi vật cho Tỳ-kheo, với tâm trộm không trả vật lại, khi tâm người chủ coi như mất rồi, trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Hoàn trả: Tỳ-kheo nhận vật của người khác gởi, với tâm trộm không trả lại cho người kia, trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Ngăn đường: Tỳ-kheo vì giặc (trộm cướp) ngăn đường, không cho người khác đến.
Rình đường: Rình thấy người, liền đến báo cho giặc.
Chỉ chỗ: Tỳ-kheo chỉ chỗ cho giặc.
Dẫn đường: Tỳ-kheo đi trước dẫn đường cho giặc.
Dạy cách lấy: Tỳ-kheo dạy cho giặc phương pháp lấy trộm.
Cùng lấy: Tỳ-kheo cùng giặc lấy trộm đồ.
Không nộp thuế:116 Tỳ-kheo nên nộp thuế mà không nộp.
Như các trường hợp trên, lấy vật trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di, dưới 5 tiền phạm Thâu-lan-giá.
Nếu vật của người, không cho mà lấy từ 5 tiền trở lên, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni phạm Ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la, bị trục xuất.
Vật của phi nhân không cho mà lấy, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni phạm Thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Vật của súc sanh không cho mà lấy đều phạm Đột-kiết-la.
Có bốn trường hợp lấy trọng vật của người mà không phạm:
- Tưởng của mình lấy.
- Tạm lấy.
- Đồng ý lấy.
- Không có tâm trộm lấy.117
 

116 Pāli: suṅkaghāṭa, trạm thuế (tại các cửa khẩu biên giới).
117 Bản Hán hết quyển 1.
 
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »