Người ngồi, Tỳ-kheo đứng; người ngồi chỗ cao, Tỳ-kheo ngồi chỗ thấp; người nằm, Tỳ-kheo ngồi; người đứng trước, Tỳ-kheo đứng sau; người ở giữa đường, Tỳ-kheo ở gần bên đường; vì người che đầu,82 vì người lật ngược y; vì người lật ngược y cả hai bên; vì người cầm dù; vì người cưỡi ngựa;83 vì người cầm gậy,84 nói pháp đều như trên đã nói.
Điều 97-98
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo vì người cầm đao, người cầm cung tên, nói sự khổ nơi địa ngục. Người kia nghe giận dữ chém, bắn Tỳ-kheo chết.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết pháp nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
97- Không nên nói pháp cho người cầm đao,85 cần phải học.
98- Không nên nói pháp cho người cầm cung tên,86 cần phải học.”
82 Hán: Phú đầu nhân覆頭人, Pāli: Veṭṭhitasīsa. (oguṇṭhitasīso nāma sasīsaṃ pāruto vuccati, trùm đầu, nghĩa là lấy vạt áo trùm kín đầu.) Thập tụng, điều 91. Tăng-kỳ, điều 53; Căn bản, điều 78. Pāli, Sikkhā 67.
83 Kỵ thừa nhân騎乘人, Pāli: Yānagata, (yānaṃ nāma vayhaṃ ratho sakaṭaṃ sandamānikā sivikā pāṭaṅkī, xe cộ: cộ [cáng], xe ngựa kéo, xe chở hàng, chiến xa, kiệu, ghế khiêng.) Tăng-kỳ, điều 62; Tứ phần, điều 59; Thập tụng, điều 85; Căn bản, điều 82-83-84.
84 Trụ trượng nhân 拄杖人, Pāli: Daṇḍapāṇin. Tăng-kỳ điều 59; Tứ phần, điều 96; Thập tụng, điều 100.
85 Tăng-kỳ, điều 57; Tứ phần, điều 99; Thập tụng, điều 102.
86 Tăng-kỳ, điều 58; Thập tụng, điều 103.