Tỳ-kheo nào, không bệnh, tự mình đốt lửa, hoặc sai người đốt, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo cần nấu canh, nấu cháo, không dám nhóm lửa, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nấu canh, nấu cháo, chứ không được vì sưởi ấm mà đốt lửa. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, không bệnh, vì sưởi ấm mà đốt lửa, Ba-dật-đề.”
Các Tỳ-kheo muốn đốt lửa để xông bát và đốt đèn đuốc ngăn thú dữ, không biết làm thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo có nhân duyên như vậy tự đốt lửa hay bảo người đốt. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, không bệnh, vì sưởi ấm mà tự mình đốt lửa hoặc sai người đốt, Ba-dật-đề.”
Nếu vì sưởi ấm mà đốt lửa, ngọn lửa lên cao cho đến bốn ngón tay, Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.358 Bấy giờ, các Tỳ-kheo đến nhà tri thức, thấy đồ trang sức quí báu, cầm xem, rồi để lại chỗ cũ. Sau bị người lấy, người chủ tìm trở lại, không biết ở đâu!
357 Tăng-kỳ 18, tr. 369c18: Ba-dật-đề 49; Tứ phần 18, tr. 691b13: Ba-dật-đề 82; Thập tụng 15, tr. 107b29: Ba-dật-đề 58; Căn bản 40, tr. 845b06: Ba-dật-đề 59. Pāli, Pāc. 84, Ratana.
358 Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Tăng-kỳ; Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
Có người nói:
“Tôi thấy Tỳ-kheo cầm.”
(Người chủ)* liền đến hỏi Tỳ-kheo:
“Tôi bị mất đồ báu như vậy, như vậy, thầy có thấy không?”
Tỳ-kheo nói:
“Vừa rồi tôi có cầm xem, rồi để trở lại chỗ cũ.”
Người chủ nói:
“Từ khi thầy cầm, sau đó tôi không thấy nữa. Vậy thầy có thể đem trả lại tôi.”
Tỳ-kheo nói:
“Thật sự tôi không lấy.”
Người chủ không tin, bèn gán cho Tỳ-kheo tiếng xấu. Bấy giờ, có một ngoại đạo mang một túi đựng năm trăm tiền vàng, đến bên bờ sông uống nước, khi đi quên không mang theo.
Có một Tỳ-kheo đến sau thấy, liền nghĩ như vầy: “Vật này là của ai?” [65a01] Liền nhìn xung quanh, thấy một người phía trước, bèn nghĩ như vầy: “Chắc là họ đang mong, ta nên mang trả cho họ.” Liền lấy mang đi theo. Người kia đi chưa xa, nhớ túi vàng, liền vội quay trở lại.
Tỳ-kheo, hỏi:
“Vì sao ông trở lại?”
Người kia liền giận, nói:
“Loại người xui xẻo, hỏi tôi làm gì?”
Tỳ-kheo nói:
“Dù tôi là người xui xẻo, cũng nên cho tôi biết (tại sao)* ông quay trở lại?”
Người kia nói:
“Tôi quên một túi nơi bờ sông, nên trở lại tìm!”
Tỳ-kheo liền đưa ra hỏi:
“Đây có phải cái túi của ông không?”
Người kia nhận ra cái túi của mình rồi lại nổi giận, nói:
“Thứ người không mang lại điềm lành, tại sao lại cầm cái túi của tôi? Ông đứng chờ một chút để tôi kiểm tra lại các vật trong túi đã!”
Tỳ-kheo nói:
“Tôi hoàn toàn không biết (thứ gì đựng trong)* túi này, cũng không xem đến chúng. Nếu tôi muốn lấy thì đâu có đưa ông xem. Vì sợ ông mất nó nên mới đem đến trả cho ông.”
Người kia lại nói:
“Trong cái túi của tôi có một ngàn tiền vàng, nay thiếu năm trăm, hãy trả lại cho tôi.”
Tỳ-kheo trả lời như ban đầu. Người kia cưỡng bức đòi Tỳ-kheo, rồi đưa đến chỗ người đoán sự. Lúc này, người đoán sự vì không tin ưa Phật pháp nên xử đoán một cách phi lý, liền bắt lấy trói ngược, đánh lừa (con lừa ?), gióng trống, áp giải đền ngã tư đường để hành quyết.
Khi ấy, vua Ba-tư-nặc ở trên lầu cao, từ xa nhìn thấy hỏi các quan tả hữu:
“Người đó là ai?”
Các quan tâu:
“Là Sa-môn Thích tử.”
Nhà vua liền ra lệnh:
“Đem về lại chỗ đoán sự, ta sẽ đích thân đến đó.”
Vua vội vàng đến và hỏi người kia:
“Tại sao ngươi tố khổ Tỳ-kheo này?”
Quan đoán sự tâu rõ sự việc như trên.
Nhà vua lại hỏi Tỳ-kheo. (Tỳ-kheo)* cũng tâu vua như trên.
Vua hỏi người kia (chủ của cái túi đựng tiền vàng):
“Đây có thật là túi của ngươi không?”
Trả lời: “Dạ phải.”
Nhà vua liền lấy năm trăm tiền vàng bỏ thêm vào trong túi kia, nhưng túi không chứa hết.
Nhà vua lại hỏi:
“Ngươi nói trong cái túi đó có một ngàn tiền vàng, tại sao bây giờ nó không đựng hết?”
Người kia liền tự thú tội nói:
“Thật sự chỉ có năm trăm, tôi giận nên vu khống cho Tỳ-kheo.”
Nhà vua hỏi vị quan đoán sự:
“Nếu có người ra mặt khi vua thì nên xử tội thế nào?”
Quan đoán sự tâu:
“Người ấy đáng chết và (tịch thu)* tài sản nhập vào cửa quan.”
Nhà vua liền cho dùng pháp này: Tịch thu tài sản, trói ngược ra sau (trói cánh gà) người này, đánh lừa (con lừa), gióng trống áp giải đến ngả tư đường hành quyết. Có người nói:
“Ông vu khống Sa-môn Thích tử, nên chịu tội này, nếu lại vu khống hủy báng, sau sẽ mắc tội nặng hơn.”
Hoặc lại có người nói:
“Sa-môn Thích tử, có lần đã từng lấy báu vật của tôi, nay e là có thật!”
Khi ấy Tỳ-kheo tâu với vua:
“Xin cho người này được sống, chớ khiến Phật pháp bị mang tiếng xấu.”
Nhà vua liền phóng thích và, quở trách quan đoán sự:
“Nếu sau này còn đoán việc như vậy, sẽ trị phạt ngươi.”
Những người không tin Phật pháp bằng mọi cách quở trách:
[65b01] “Chúng ta là người thế tục còn biết xấu hổ khi cầm vật báu. Còn Sa-môn Thích tử, tại sao lại như vậy? Không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem cả việc trước sau bạch đầy đủ lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vật, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cầm nắm báu vật, hoặc (những đồ trang sức bằng)* các bảo vật,359 Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu mặc áo quí báu nhất, trang điểm thân thể, cùng nhiều người thân du ngoạn nơi lâm viên, rừng gần Kỳ-hoàn.
359 Thập tụng: “hoặc bảo, hoặc tợ bảo.” Giải thích, bảo: tiền, vàng bạc…; tợ bảo: đồng, thiếc, bạch lạp, chì,… Pāli: ratanaṃ vā ratanasammaṃ, bảo vật hay vật tương đồng bảo vật.
Thấy mọi người đang vui chơi, bà liền nghĩ như vầy: “Nay ta không nên cùng phóng dật với họ. Nhân dịp may này có thể viếng thăm đức Thế Tôn.” Bà liền dẫn các tỳ nữ đến Kỳ-hoàn. Khi đến cửa Kỳ-hoàn, bà lại nghĩ như vầy: “Nay, ta không nên mặc đồ trang sức đẹp sang này, đến hầu đức Thế Tôn.” Bà liền cởi áo quí báu, để nơi cạnh hào. Khi ấy, tôn giả Xá-lợi-phất đang đi kinh hành, từ xa thấy. Tỳ-xá-khư Mẫu đến trước Phật đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên. Đức Phật vì bà nói pháp, chỉ bày những lợi ích, khiến vui mừng. Không bao lâu, bà lui về, vì mãi suy nghĩ những điều vừa được nghe, nên quên chỗ để chiếc áo quí.
Bà trở về, sau khi cửa thành đóng, mới nhớ lại chiếc áo, bà nghĩ như vầy: “Nếu ta nói với ai là đã mất chiếc áo quí báu này, thì sẽ làm tổn thương đến Phật pháp, nên im lặng đến sáng hôm sau.”
Lúc này, tôn giả Xá-lợi-phất đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật bảo tôn giả Xá-lợi-phất:
“Ông đến lấy lại.”
Tôn giả vâng lời liền đi lấy.
Đức Phật bảo tôn giả Xá-lợi-phất: “Sáng sớm ngày mai, đích thân ông đem đến trả cho bà ta.”
Vâng lời liền đem đến. Tỳ-xá-khư Mẫu cảm thán hết lời:
“Lành thay! Tôi có vị Đại sư và đồng Phạm hạnh như vậy. Nếu ngoại đạo khác lấy được vật này thì đâu có chuyện trả lại cho tôi. Đêm vừa rồi, tôi đã xả, nay nên thỏa nguyện đó.”
Bà liền đem dâng cúng cho tứ phương Tăng. Bà yêu cầu tôn giả Xá-lợi-phất dùng của này cất nhà Chiêu-đề Tăng.360 Tôn giả không dám nhận, đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
360 Nhà Chiêu-đề Tăng 招提僧堂: Skt. catur-diśa, Pāli: catu-disa, tức chỉ cho nhà khách mà Tăng chúng từ bốn phương (Chiêu-đề Tăng) đến đều có thể nghỉ lại qua đêm.
“Nên nhận.”
Lại có các cư sĩ, cứ năm ngày là đến Tăng phường thăm viếng một lần. Có người cởi nhẫn, có người cởi bông tai (trước khi vào Tăng phường,)* khi về đều quên. Các Tỳ-kheo thấy không dám lấy, có người khác thấy, liền lấy đem đi.
Các cư sĩ, khi trở lại Tăng phường tìm, hỏi các Tỳ-kheo:
“Tôi mất vật báu như vầy như vầy, thầy có thấy không?”
Trả lời:
“Tôi thấy, mà không dám lấy.”
Các cư sĩ nói:
“Đại đức thấy nó, tại sao không lấy? (Đại đức)* có thể đem trả lại cho tôi, người xuất gia nào cần vật này!”
Trả lời:
“Thật sự tôi không lấy.”
Họ dứt khoát không tin, bèn gán tiếng xấu cho Tỳ-kheo.
[65c01] Lại có các Tỳ-kheo du hành cùng bạn đi đường đến nơi ký túc. Trong số bạn có người ra đi quên vật. Tỳ-kheo thấy không dám lấy, bị người khác lấy mất.
Các người bạn hỏi Tỳ-kheo:
“Tôi mất vật như vầy như vầy, Đại đức có thấy không?”
Tỳ-kheo nói:
“Tôi thấy mà không dám lấy.”
Các người bạn nói:
“Đại đức thấy nó, tại sao không lấy? Có thể đem trả lại cho tôi, người xuất gia nào cần vật này!”