Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 14: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG I: BA-LA-DI. III. Đoạng Nhân Mạng: D. Phạm Tướng (Trang 91 - 95)

Tự giết: Tự mình dùng tay chân, cầm dao, gậy, thuốc độc cùng các vật để giết.
Cho dao, thuốc độc: Người kia muốn tự sát, tìm cầu phương tiện được cho để giết.
Dạy người giết: Sai khiến người giết.
Dạy tự sát:  Bảo người chịu lấy chết.
Khen ngợi sự chết, khích lệ sự chết: Bảo nên chết tốt hơn là sống.
Tác tâm như vậy và tùy theo tâm mà sát: Là tùy vào tâm ý mình mà sai các quỷ thần giết.
D. PHẠM TƯỚNG
Phạm ở đây:
Tự mình giết, sai khiến, lần lượt sai, sai lại, chỉ bày, lời lẽ; nói khi ngủ, hướng đến người ngủ nói; nói khi say, hướng đến người say nói; nói khi cuồng, hướng đến người cuồng nói; nói khi loạn tâm, hướng đến người loạn tâm nói; nói lúc bệnh hoại tâm, hướng đến người bệnh hoại tâm nói; khiến viết thư, ra dấu, nói bằng tay, nói tương tợ; một mình, tưởng là một mình; không một mình, tưởng là một mình; một mình, tưởng là không một mình; nói giỡn, sắc, thanh, hương, vị, xúc, ưu-ba-đầu, ưu-ba-xà, ưu-ba-hại.
- Tự giết: Tự tay mình cầm dao, gậy, các thứ để giết, người kia chết, Ba-la-di.
- Sai sứ:136 Sai sứ giả giết người kia, người kia chết, Ba-la-di.
- Lần lượt sai:137 Khiến ông A giết, ông A không tự giết, rồi sai ông B giết, người kia chết, Ba-la-di.
- Sai lại:138 Người đầu nhận, không giết được, về báo Tỳ-kheo. Tỳ-kheo sai lại (người khác)* giết, người kia chết, Ba-la-di.
- Chỉ bày: Chỉ mặt trời, mặt trăng, tinh tú, nói với người: “Phước của ngươi nên sinh chỗ kia, ngươi nên tự sát”. Vì vậy mà họ chết, phạm Ba-la-di.
- Nói năng:139 Nói sự sống là tội lỗi, khen ngợi sự chết. Do vậy, người kia chết, phạm Ba-la-di.
- Nói khi ngủ: Lúc ngủ Tỳ-kheo nói những ý nghĩ trước đó rằng, “Công đức của ngươi đã thành, nên đáng tự sát”. Người kia nghe rồi, đợi (Tỳ-kheo)* thức dậy hỏi: “Tại sao thầy nói vậy?”
Đáp: “Trong khi ngủ tôi muốn lợi ích cho ngươi, nên nói những lời này. Nay tôi đã thức cũng nói như vậy. Ngươi có thể chết theo lời nói của tôi”. Người kia nhân đó mà chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.
- Hướng đến người ngủ nói: Hướng đến người ngủ nói như vầy, [8c01] “Công đức ông đã thành, có thể dùng dao, hay các thứ, tự sát”. Quỷ thần khiến (người)* trong lúc ngủ nghe, liền thức dậy hỏi:
“Tại sao thầy nói vậy?”
 

136 Hán: Khiển sứ 遣使, tức là sai người đi khuyến khích người kia tự sát. Pāli: dūtena saṃvaṇṇeti, khuyến khích (chết) bằng sứ giả.
137 Tứ phần: Triển chuyển sứ 展轉使. Pāli: visakkiyena dūtena, bởi sứ giả lần lượt giết nhau (để phi tang thủ phạm).
138 Tứ phần: Trùng sứ 重使. Pāli: dūtaparamparāya, sứ giả này tiếp theo sứ giả khác, một chuỗi sứ giả.
139 Tứ phần, Khẩu thuyết 口說; khuyên người tự sát bằng lời nói. Pāli: vācāya saṃvaṇṇeti.
 
Đáp: “Khi ngươi ngủ, tôi muốn lợi ích cho ngươi nên nói những lời này. Nay ngươi thức (tôi)*cũng nói những lời như vậy. Ngươi có thể chết theo lời nói của tôi”. Nhân đó người kia chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.
- Nói khi say: Khi say (Tỳ-kheo)* nói những ý nghĩ trước đó rằng: “Công đức ngươi đã thành, nên dùng dao hay các thứ tự sát”. Người kia nghe rồi, đợi (Tỳ-kheo)* tỉnh, hỏi:
“Tại sao thầy nói vậy?”
Đáp:
“Khi say tôi muốn lợi ích cho ngươi nên nói những lời này. Nay tôi tỉnh cũng nói như vậy. Ngươi có thể chết theo lời nói của tôi”. Nhân đó người kia chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.
- Hướng về người say nói: Nói như vầy, “Công đức của ngươi đã thành, ngươi có thể dùng dao hay các thứ tự sát”. Khi tỉnh say rồi hỏi:
“Tại sao thầy nói vậy?”
Đáp:
“Tôi muốn lợi ích cho ngươi vậy. Khi ngươi say, (tôi)* nói như vậy. Nay ngươi tỉnh, (tôi)* cũng nói như vậy. Ngươi có thể chết theo lời nói của tôi”. Nhân đó người kia chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.
- Nói khi cuồng, hướng về người cuồng nói; nói khi tâm loạn, hướng về người tâm loạn nói; nói lúc bệnh hoạn tâm, hướng về người bệnh hoại tâm nói cũng như vậy.
- Viết thư:140 Tỳ-kheo viết thư khiến (người kia)* chết, Tỳ-kheo viết thư, mỗi chữ phạm một Thâu-lan-giá. Thư đến kia, nhân đó người kia bị giết, nếu người chết, phạm Ba-la-di.
 

140 Khiển thư 遣書. Pāli: lekhāya saṃvaṇṇeti, khuyến khích (chết) bằng cách viết (thư).
 
- Ra dấu: Tỳ-kheo nói với người rằng:
“Ngươi xem ta ngồi, đứng, đưa tay lên, hạ tay xuống, miệng nói, khi lạnh, nóng, liền giết người kia”.
Người ấy thấy tướng (ra dấu)* bèn giết, nếu người chết, phạm Ba-la-di.
- Nói bằng tay: Tạo lời nói qua tay để dạy người giết, người kia theo đó mà giết, nếu người chết, phạm Ba-la-di.
- Nói tương tợ: Tỳ-kheo tạo lời nói tương tợ dạy người giết. Người kia theo đó mà sát, nếu người chết, phạm Ba-la-di.
Một mình, tưởng là một mình, Đột-kiết-la. Không một mình, tưởng là một mình; một mình, tưởng là không một mình, phạm Thâu-lan-giá.
- Nói giỡn: Tỳ-kheo nói vui chơi rằng:
“Công đức của ngươi đã thành, nên cần tự sát”. Người kia hỏi:
“Tại sao nói lời vậy?”
Tỳ-kheo trả lời:
“Trước đây, tuy đó là lời giỡn của tôi, nhưng nay có ý thật vậy, ngươi có thể tự sát”. Nhân đó người chết, phạm Ba-la-di.
- Sắc: Nếu Tỳ-kheo làm chú thuật triệu quỷ thần tướng ác, khiến người sợ hãi, nhân đó người chết, phạm Ba-la-di.
- Thinh: Nếu Tỳ-kheo nói như vầy, “Cha mẹ con cái của ngươi đã chết, tài sản bị phá tán”. Những lời như vậy là muốn khiến lo rầu tự sát, nhân đó họ chết, phạm Ba-la-di.
- Hương: (Tỳ-kheo)* dùng chất độc hòa với các loại hương, khiến cho ngửi, liền chết, nhân đó người chết, phạm Ba-la-di.
- Vị: (Tỳ-kheo)* dùng chất độc trộn chung trong thức ăn, khiến ăn, nhân đó người chết, phạm Ba-la-di.
- Xúc:141 (Tỳ-kheo)* dùng độc dược ca-tỳ (?) [9a01] xoa nơi thân khiến sát, nhân đó người chết, phạm Ba-la-di.
- Ưu-ba-đầu:142 (Tỳ-kheo)* đào hầm gài bẫy bắt giết tất cả chúng sanh. Nếu người rớt xuống chết, phạm Ba-la-di; phi nhân rớt xuống chết, phạm Thâu-lan-giá; súc sanh rớt chết, phạm Ba-dật-đề.
- Ưu-ba-xa:143 (Tỳ-kheo)* làm giường yếu, phủ lớp mỏng lên nó, trên dưới đặt dụng cụ giết, khiến người ngồi lên, nhân đó người chết, phạm Ba-la-di.
- Ưu-ba-hại:144 (Tỳ-kheo)* dùng nọc độc của trùng để giết, nhân đó người chết, phạm Ba-la-di.
Nếu Tỳ-kheo nghĩ như vầy, “Ta sẽ giết người kia”, khi móng tâm phạm Đột-kiết-la, khi tạo phương tiện phạm Thâu-lan-giá, nếu người chết, phạm Ba-la-di.
Nếu giết phi nhân phạm Thâu-lan-giá, giết súc sanh phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
 

141 Xúc: Pāli. Vin. i. 78: Phoṭṭhabbūpahāro nāma amanāpikaṃ phoṭṭhabbaṃ upasaṃharati dukkhasamphassaṃ kharasamphassaṃ – ‘‘iminā phuṭṭho marissatī’’... Sự đem lại cảnh xúc, nghĩa là đem lại cảnh xúc trái ý, gây đau đớn, thô cứng, nghĩ rằng: “Đụng chạm vào vật này (người đó) sẽ chết.”...
142 Ưu-ba-đầu 優波頭: Tăng-kỳ 4 (tr. 256a6): ô-mãn-thổ 烏滿吐. Tứ phần 1 (tr.577a15), hầm hố (khanh hãm 坑陷) - xét biết người kia sẽ đi qua lại trên tuyến đường đó; giữa đường đào một cái hầm sâu, trong hầm để lửa hoặc dao, hoặc rắn độc...;  Thập tụng 2 (tr. 8c18): Ưu-đa 憂多; Pāli: opāta (đào hố).
143 Ưu-ba-xa 憂波奢: Tứ phần, Ỷ phát 倚發; bản Tống-Nguyên-Minh: Ỷ bát 倚撥. Thập tụng 2: Cơ bát 機撥 (phát động bằng máy móc hay bẫy cài); Pāli: apassena: vật để tựa, bẫy ngụy trang.
144 Ưu-ba-hại 憂波害: Tứ phần, đặt dụng cụ giết (an sát cụ 安殺具); Tăng-kỳ: a-ba-khâm-mãn 阿波欽滿; Pāli: upanikkhipana (Skt. upanikṣepana), việc để bên cạnh, nghĩa là đem lại gần bên hoặc là thanh gươm, cây giáo, mũi tên, cọc nhọn... (nghĩ rằng): “(Người ấy) sẽ chết bằng vật này”.
 
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »