Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 17: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG I: BA-LA-DI. IV. Đại Vọng Ngữ: C. Thích Từ. D. Phạm Tướng (Trang 101 - 104)

Tôi không biết mà nói biết, không thấy mà nói thấy, hư cuống vọng ngữ, trừ tăng thượng mạn, Tỳ-kheo này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.”         
 C. THÍCH TỪ
Không biết không thấy:154 Không biết không thấy pháp hơn người.
Pháp hơn người:155 Tất cả pháp xuất yếu, là các thiền định, Tam-muội giải thoát, Chánh thọ, các Thánh đạo quả.
Thánh lợi đầy đủ: Đối với những lời Phật dạy về khổ, tập, diệt, đạo đã hoàn tất đầy đủ, không còn sở cầu.
Tự xưng tôi thấy như vậy biết như vậy: Tự nói tôi biết, thấy pháp như vậy, pháp cũng biết, thấy tôi. Hoặc một tháng cho đến một năm. Sau đó có người cật vấn: “Thầy đắc thế nào, đắc ở đâu, đắc từ ai, đắc do pháp gì?” [10a01] Hoặc không bị người cật vấn mà tự phát lồ những điều đã phạm, cầu giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, nghi tịnh, nên nói:
“Tôi không biết, không thấy khổ, tập, diệt, đạo mà nói biết, thấy, hư cuống vọng ngữ”.
Tuy phát lồ như vậy nhưng Tỳ-kheo vẫn phạm tội Ba-la-di.
D. PHẠM TƯỚNG
Tướng phạm ở đây:
 

154 Tăng-kỳ: vị tri vị liễu 未知未了. Tứ phần, Thập tụng: Bất tri bất kiến 不知不見.  Căn bản: thật vô tri vô biến tri 實無知無遍知. Pāli: anabhijānaṃ, không chứng tri, không chứng đắc, không thắng tri.
155 Hán: Quá nhân pháp  過人法. Tăng-kỳ (tr. 261a7): quá nhân pháp, chỉ 10 trí,... vô sanh trí,... cho đến 10 vô học pháp, 10 lậu tận lực. Tứ phần (tr. 578b15): thượng nhân pháp 上人法: Các pháp có khả năng thành tựu xuất ly. Thập tụng 2 (tr.12c...): Quá nhân pháp 過人法.  Pāli, Vin.i.91: uttaramanusadhammo nāma jhānaṃ vimokkho samādhi samāpatti ñāṇadassanaṃ..., “Pháp của bậc thượng nhân, chỉ cho thiền, giải thoát, chánh định, chánh thọ, tri kiến...”
 
Có hai hạng phạm Ba-la-di: Một, trước nghĩ như vầy: “Tôi sẽ nói dối là đắc pháp hơn người”. Hai, khi đang nói nghĩ như vầy: “Tôi đang nói dối là đắc pháp hơn người”.
- Lại có ba hạng mắc Ba-la-di: Hai hạng như trên và, hạng thứ ba nghĩ như vầy: “Tôi đã nói dối là đắc pháp hơn người”.
- Lại có bốn hạng mắc Ba-la-di: Ba hạng như trên và, hạng thứ tư dùng dị kiến (kiến giải ngoại đạo)* nói pháp hơn người.
- Lại có năm hạng mắc Ba-la-di: Bốn hạng như trên và, hạng thứ năm dùng dị tưởng (tư tưởng ngoại đạo)* nói pháp hơn người.
- Lại có sáu hạng mắc Ba-la-di: Năm hạng như trên và, hạng thứ sáu dùng dị nhẫn (nhẫn ngoại đạo)* nói pháp hơn người.
- Lại có bảy hạng mắc Ba-la-di: Sáu hạng như trên và, hạng thứ bảy dùng dị lạc156 (lạc của ngoại đạo)* nói pháp hơn người.
- Lại có tám hạng mắc Ba-la-di: Bảy hạng như trên và hạng thứ tám không trả lời theo câu hỏi mà nói pháp hơn người.
Có bốn loại không phải Thánh ngữ và bốn loại Thánh ngữ:
Không phải Thánh ngữ: Không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không hiểu nói hiểu, không biết nói biết.
Thánh ngữ: Thấy nói thấy, nghe nói nghe, hiểu nói hiểu, biết nói biết.
Lại có tám loại không phải Thánh ngữ và tám loại Thánh ngữ:
Không phải Thánh ngữ: Không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, không nghe nói nghe, nghe nói không nghe, không hiểu nói hiểu,
 

156 Dị lạc 異樂: Tỳ-ni chỉ trì hội tập (毗尼止持會集) 3, tr. 247a17, X39n709, thứ bảy là pháp lạc khác (không phải của Phật) nói pháp hơn người, nghĩa là chưa đắc pháp lạc chân thật mà nói là đắc, 七者異樂說得過人法 (異樂謂未得真法樂言得).
 
hiểu nói không hiểu, không biết nói biết, biết nói không biết. Ngược với nghĩa trên, gọi là tám Thánh ngữ.
Lại có 16 loại không phải Thánh ngữ và 16 loại Thánh ngữ:
Không phải Thánh ngữ: Không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không hiểu nói hiểu, không biết nói biết, thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, hiểu nói không hiểu, biết nói không biết; thấy nghi nói không nghi, nghe nghi nói không nghi; nghi nói không nghi, biết nghi nói không nghi, thấy không nghi nói nghi, nghe không nghi nói nghi; không nghi nói nghi, biết không nghi nói nghi. Ngược với nghĩa trên gọi là 16 Thánh ngữ.    
Tỳ-kheo hướng đến người tự xưng đắc Pháp hơn người, đối tượng hiểu được, phạm Ba-la-di, không hiểu được phạm Thâu-lan-giá; hướng đến phi nhân nói phạm Thâu-lan-giá; hướng đến súc sanh nói phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di ni phạm Đột-kiết-la.
Không phạm: Nói đúng sự thật.
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »