Tôi không biết mà nói biết, không thấy mà nói thấy, hư cuống vọng ngữ, trừ tăng thượng mạn, Tỳ-kheo này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.”
C. THÍCH TỪ
Không biết không thấy:154 Không biết không thấy pháp hơn người.
Pháp hơn người:155 Tất cả pháp xuất yếu, là các thiền định, Tam-muội giải thoát, Chánh thọ, các Thánh đạo quả.
Thánh lợi đầy đủ: Đối với những lời Phật dạy về khổ, tập, diệt, đạo đã hoàn tất đầy đủ, không còn sở cầu.
Tự xưng tôi thấy như vậy biết như vậy: Tự nói tôi biết, thấy pháp như vậy, pháp cũng biết, thấy tôi. Hoặc một tháng cho đến một năm. Sau đó có người cật vấn: “Thầy đắc thế nào, đắc ở đâu, đắc từ ai, đắc do pháp gì?” [10a01] Hoặc không bị người cật vấn mà tự phát lồ những điều đã phạm, cầu giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, nghi tịnh, nên nói:
“Tôi không biết, không thấy khổ, tập, diệt, đạo mà nói biết, thấy, hư cuống vọng ngữ”.
Tuy phát lồ như vậy nhưng Tỳ-kheo vẫn phạm tội Ba-la-di.
D. PHẠM TƯỚNG
Tướng phạm ở đây:
154 Tăng-kỳ: vị tri vị liễu 未知未了. Tứ phần, Thập tụng: Bất tri bất kiến 不知不見. Căn bản: thật vô tri vô biến tri 實無知無遍知. Pāli: anabhijānaṃ, không chứng tri, không chứng đắc, không thắng tri.
155 Hán: Quá nhân pháp 過人法. Tăng-kỳ (tr. 261a7): quá nhân pháp, chỉ 10 trí,... vô sanh trí,... cho đến 10 vô học pháp, 10 lậu tận lực. Tứ phần (tr. 578b15): thượng nhân pháp 上人法: Các pháp có khả năng thành tựu xuất ly. Thập tụng 2 (tr.12c...): Quá nhân pháp 過人法. Pāli, Vin.i.91: uttaramanusadhammo nāma jhānaṃ vimokkho samādhi samāpatti ñāṇadassanaṃ..., “Pháp của bậc thượng nhân, chỉ cho thiền, giải thoát, chánh định, chánh thọ, tri kiến...”
hiểu nói không hiểu, không biết nói biết, biết nói không biết. Ngược với nghĩa trên, gọi là tám Thánh ngữ.
Lại có 16 loại không phải Thánh ngữ và 16 loại Thánh ngữ:
Không phải Thánh ngữ: Không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không hiểu nói hiểu, không biết nói biết, thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, hiểu nói không hiểu, biết nói không biết; thấy nghi nói không nghi, nghe nghi nói không nghi; nghi nói không nghi, biết nghi nói không nghi, thấy không nghi nói nghi, nghe không nghi nói nghi; không nghi nói nghi, biết không nghi nói nghi. Ngược với nghĩa trên gọi là 16 Thánh ngữ.
Tỳ-kheo hướng đến người tự xưng đắc Pháp hơn người, đối tượng hiểu được, phạm Ba-la-di, không hiểu được phạm Thâu-lan-giá; hướng đến phi nhân nói phạm Thâu-lan-giá; hướng đến súc sanh nói phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di ni phạm Đột-kiết-la.
Không phạm: Nói đúng sự thật.