trấn lột; hoặc bị các loại thú, trùng làm hại, ăn bất kể ngày đêm, chểnh mảng việc tu Phạm hạnh. Khi ấy, Ca-lưu-đà-di224 mặc y tạp sắc, mặt đen, mắt đỏ, khất thực trong đêm tối. Có một người phụ nữ mang thai, thấy (Ca-lưu-đà-di)* qua ánh sáng trời chớp, hoảng hồn, la lên: “Tỳ-xá-giá! Tỳ-xá-giá! (ma! ma!)”
Ca-lưu-đà-di nói:
“Tôi là Sa-môn khất thực, chứ không phải là Tỳ-xá-giá.”
(Người phụ nữ)* liền mắng nặng lời:
“Tại sao ông không lấy dao mổ bụng đi, mà khất thực trong đêm tăm tối! Các Sa-môn, Bà-la-môn khác chỉ ăn một lần là đủ, tại sao ông ăn không kể ngày đêm!?”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, ăn phi thời, phạm Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, có Tỳ-kheo uống thuốc xổ không cầm ra hết, khi ăn vào thì bụng lại trống nên buồn nôn. Các Tỳ-kheo không biết làm thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Dùng bơ thoa vào thân,” vẫn không thuyên giảm.
224 Tứ phần: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷. Cf. M. i. 437 (Bhaddālisutta): chuyện tôn giả Bhaddāli. Xem Trung A-hàm 51, kinh 194 Bạt-đà-hòa-lợi, T1, tr. 746.