“Chúng tôi132 tuy buồn thương, nhưng không thể tự sát. Tại sao vậy? Vì ở đời có gặp khổ mới biết tu đạo nghiệp.”
Lại quở trách:
“Đạo của Sa-môn là từ nhẫn chúng sanh, tại sao khen ngợi sự chết, muốn người tự sát! Tự sát cùng khen ngợi sự chết có gì là khác nhau!?”.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ đức Phật, trình bày sự việc lên Ngài. Nhân sự việc này đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các thầy133 có thật vậy không?”
Thưa: [8b01] “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Việc của các thầy134 làm là phi pháp, tự sát cùng khen ngợi sự chết, có gì khác nhau! Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, hoặc người, hoặc tương tợ người, hoặc tự sát, hoặc đưa dao hay thuốc độc để giết; hoặc dạy người giết, hoặc dạy tự sát, khen ngợi sự chết, khích lệ cho chết, nói: ‘Người, dụng làm gì với sự sống xấu ác này, chết hơn là sống’, tác tâm như vậy và tùy theo tâm mà sát, dùng mọi cách như thế, người kia do vậy mà chết; Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung.”
C. THÍCH TỪ
Người:135 Từ khi vào thai mẹ cho đến 49 ngày gọi là tương tợ người, sau 49 ngày thì gọi là người.
135 Tăng-kỳ 4, hữu mạng nhân thú sở nhiếp, 有命人趣所攝, có mạng sống, thuộc cõi người. Tứ phần 2, nhân 人: Tùng sơ thức chí hậu thức 從初識至後識, Tâm đầu tiên trong sinh khởi thai mẹ, thức tối sơ xuất hiện, cho đến khi chết, trong khoảng giữa đó gọi là thân người. Thập tụng: Nhược nhân nhược loại nhân 若人若類人 (người và loại tợ người). Căn bản: “Nhược nhân, nhược nhân thai 若人若人胎. Nhân (người), trong thai mẹ, đã đủ 6 căn. Nhân thai, mới nhập thai mẹ.’’ Pāli, Vin. iii. tr. 73: manussaviggaha (thân thể con người).