Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 45: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG II: TĂNG TÀN. X. Phá Tăng: A. Duyên Khởi (Trang 152 - 175)

tiết nhỏ nhặt để phỉ báng Tỳ-kheo không phạm Ba-la-di thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Nghe, nghi cũng như vậy. Thấy, nghe, nghi người khác phạm Thâu-lan-giá, phạm Ba-dật-đề, phạm Ba-la-đề đề-xá-ni, phạm Đột-kiết-la, dùng Ba-la-di phỉ báng cũng như vậy. Ngoài ra như trên đã nói.
X. PHÁ TĂNG84
A. DUYÊN KHỞI
1. Các vương tử họ Thích
Đức Phật ở tại ấp Di-na, dưới rừng A-nậu.85 Bấy giờ, những người quý tộc dòng họ Thích, phần nhiều xuất gia học đạo theo đức Phật . Khi ấy, Thích-ma-nam86 nói với A-na-luật:87
 “Nay các quý tộc đều xuất gia tu Phạm hạnh, tại sao riêng anh em chúng ta lại không? Nếu anh xuất gia thì em làm chủ việc nhà, nếu em xuất gia thì anh sẽ lo liệu.”
A-na-luật nói:
“Anh88 cứ đi xuất gia, em sẽ làm chủ việc nhà.”
 

84 Tăng-kỳ 7, tr. 281a20; Tứ phần 4, tr. 590b13; Thập tụng 4, tr. 24b22; Căn bản 14, tr.700b1. Vin. iii. 171.
85 Tăng-kỳ  7, tr. 281a20: Xá-vệ thành 舍衞城. Tứ phần 4, tr. 590b13: Di-ni-sưu quốc A-nô-di giới 彌尼搜國阿奴夷界 (địa phận của A-nô-di, nước Di-ni-sưu). Thập tụng 4, tr. 24b22; Căn bản 14, tr. 700b1: Vương Xá thành 王舍城. Pāli, Anupiyā, thị trấn thuộc xứ Malla, gần Kapilavatthu.
86 Thích-ma-nam 釋摩男, Skt. Sakkamahānāma, còn gọi Ma-ha-nam 摩訶男. Pāli, Mahānama.
87 A-na-luật 阿那律. Pāli, Anuruddha, anh em với Mahānāma, con Vua Amitodana (Hộc Phạn Vương). Vin. ii 183 (Cūḷavagga 7. Saṅghabheda).
88 Theo Tứ Phần thì A-na-luật là anh, còn Thích-ma-ha-nam là em. Tăng-kỳ, Thập tụng, Căn bản: Không có sự kiện này.
 
Thích-ma-nam nói:
“Trước đây (mọi việc)* nhà do anh, em chỉ biết hưởng nhàn, mà không biết gian nan, song xuất gia hành đạo cũng lại khổ sở! Nay em ở nhà, anh sẽ chỉ cho em phương pháp quản lý gia nghiệp.”
(Thích-ma-nam)* liền hướng dẫn mọi việc, ban ngày phải như vậy, ban đêm phải như vậy, phương pháp làm ruộng, cách điều hành mua bán hàng hóa, chỉ bày mọi việc.
A-na-luật nói:
“Nếu quản lý gia nghiệp mà phải như vậy mới được thành công, [17a01] thì một ngày em cũng không thể quản lý nổi. Xin anh ở nhà, em sẽ đi xuất gia (tu đạo).”
Thích-ma-nam nói:
“Theo chư Phật Thế Tôn, cha mẹ không cho phép thì không được làm đạo. Nay em nên tự đến trình thưa với mẹ.”
A-na-luật liền đến thưa: “Con muốn xuất gia học đạo ở trong Phật pháp.”
Mẹ bảo:
“Ta chỉ có hai anh em con, tình thương yêu rất nặng, làm sao sống mà xa cách cho được!? Nhà ta rất giàu có, tu công đức tùy thích, sao phải xuất gia để làm tổn thương ý này của mẹ!?”
Khổ cầu đến ba lần, mẹ bèn nói: “Nếu vua Bạt-đề89 xuất gia thì mẹ cũng cho phép con.”
Lúc ấy, vua Bạt-đề cùng A-na-luật, A-nan,90 Nan-đề,91 Điều-đạt,92 Bà-bà,93 Kim-bệ-lô94 các vị thương mến nhau rất nặng, nếu có làm việc gì thề không trái nhau.
 

89 Bạt-đề vương 跋提王. Pāli, Bhaddiya Sakyarājan; là anh em họ với A-na-luật.
90 A-nan 阿難. Pāli, Ānanda.
91 Nan-đề 難提. Pāli, Nanda.
92 Điều-đạt 調達 (Đề-bà-đạt-đa). Pāli, Devadatta.
93 Bà-bà 婆婆. Pāli, Bhagu.
94 Kim-bệ-lô 金鞞盧. Pāli, Kimbila.
 
Bấy giờ, A-na-luật đến nói với vua Bạt-đề:
“Nay có chút việc xin được bày tỏ.”
Vua nói:
“Chúng ta vốn đã thề nặng là không làm trái nhau, nếu làm trái nhau thì đầu sẽ bị vỡ thành bảy mảnh. Chỉ cần theo ý nguyện, quyết sẽ làm theo.”
A-na-luật liền đem những gì mẹ đã nói thưa lên vua. Vua nói:
“Theo như nguyện này của bạn, tôi chưa có thể tùy thuận. Vì sao? Vì ý nguyện làm vua của tôi, hôm nay mới bắt đầu có kết quả. Thân tộc tôi tuy giàu sang, nhưng sự lo lắng không thể không có, làm sao có thể bỏ nó để xuất gia học đạo?”
A-na-luật nói:
“Nếu vua xuất gia thì ý nguyện của tôi mới toại, tham đắm sự phồn vinh thì tôi sẽ vĩnh viễn trầm luân. Xin vua ba lần, nên suy nghĩ đừng để trái với lời thề trước kia.”
Vua Bạt-đề nói:
“Sẽ theo ý nguyện của bạn, nhưng để lui cho tôi bảy năm, sau đó sẽ cùng bạn xuất gia học đạo.”
A-na-luật nói:
“Sau bảy năm chưa chắc đức Phật còn tại thế? Hơn nữa, tính mạng nguy thúy của tôi khó mà bảo toàn. Tại sao nay vua lại đem nó ra để hẹn?”
Vua lại nói:
“Bảy năm nếu lâu thì có thể sáu năm?”
Trả lời cũng như trên, từ năm, bốn, ba, hai đến một năm, rồi từ bảy tháng đến còn một tháng, từ bảy ngày đến còn một ngày đều cũng như vậy.
Nhà vua nói:
“Chúng ta là gia chủ,95 đông như vậy làm sao tiện lợi mà đi. Cần phải tạo phương tiện, trang bị xa giá xuất hành, nhân cuộc vi hành này mới có thể được. Tiện đây bạn có thể nói với A-nan-đà cùng các vị để biết ý này.”
A-na-luật liền thông báo hết với năm người, năm người vui mừng thuận ý. Liền trong đêm trang bị bốn loại binh (voi, ngựa, xe, lính bộ) trang sức bề ngoài nhất đời, trời vừa sáng thì họ xuất hành, tham quan du ngoạn xong, âm thầm dẫn theo người thợ cạo tóc Ưu-ba-ly,96 bỏ lại hết những người tùy tùng,  tìm đến chỗ thanh vắng, y phục quý báu biếu cho Ưu-ba-li, nhờ ông cạo tóc, thay đổi y phục mà đi. (Bảy người)* đi chưa được bao lâu, Ưu-ba-ly nghĩ như vầy: “Các hào tộc dòng họ Thích cường bạo, nếu biết ta cạo đầu cho những người này, chắc họ sẽ giết ta. Hơn nữa, các quý tộc này còn có thể bỏ nhà (đi xuất gia)*, [17b01] nay ta tại sao không bỏ đồ nghề hớt tóc và các y phục quý giá này theo họ mà đi!” Rồi liền tự cạo đầu, đem các y phục quý báu treo trên cây, nghĩ như vầy: “Ai cần thì lấy nó.” Ngay lúc đó đi thật nhanh, trong chốc lát đuổi theo kịp và nói với bảy người: “Nay tôi cũng muốn theo (quý vị)* xuất gia.”
 

95 Trưởng giả 長者: Skt. Śreṣṭhin, Gṛha-pati; Pāli. Seṭṭhin, Gaha-pati; có nghĩa là gia chủ, cư sỹ. Thông thường thì gọi chung những người giàu sang có thế lực, hoặc những người tuổi cao, đức lớn.
96 Ưu-ba-li 優波離. Pāli, Upāli.
 
Bảy người liền chấp thuận, rồi cùng đi đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch:
“Kính bạch đức Thế Tôn, nay chúng con muốn xuất gia tịnh tu Phạm hạnh mà Ưu-ba-ly là người nô bộc của chúng con, xin Ngài cho ông ta thọ Cụ túc giới trước, sau mới độ chúng con,97 để cho chúng con và mọi người dòng họ Thích phá lòng kiêu mạn lớn đối với người kia.”
Đức Phật liền độ Ưu-ba-ly trước, độ bảy người sau.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nghĩ như vầy: “Ca-duy-la-vệ98 cách đây không xa, những người dòng họ Thích biết việc này sẽ gây trở ngại”, liền đưa tám người đến thành Bạt-đề-la,99 ở dưới cây Võng Lâm, vì họ nói diệu pháp về: Nhãn vô thường, sắc vô thường; nhãn thức, nhãn xúc; nhãn xúc làm duyên sanh thọ vô thường… cho đến ý vô thường, pháp vô thường; ý thức, ý xúc; ý xúc làm duyên sanh thọ vô thường. Các ngươi là Thánh đệ tử nên quán như vậy, sanh tâm yểm ly, sẽ đắc trí giải thoát, việc làm đã xong, Phạm hạnh đã lập, không tái sanh đời sau.
Lúc nói pháp này, sáu người lậu hết, đắc A-la-hán. A-nan vì hầu Phật, các lậu chưa hết. Điều-đạt, người duy nhất không thu hoạch được chi.100
Vua Bạt-đề đắc A-la-hán rồi, tâm tịnh không sợ hãi, hoặc ở dưới bóng cây, ngồi nơi đất trống, kinh hành, tự vui sướng, thốt lên:
“Khoái thay! Khoái thay!”
 

97 Hán: Ngã我.
98 Ca-duy-la-vệ 迦維羅衛. Pāli, Kapilavatthu.
99 Tứ phần, tr. 591b21: Sau khi độ các Thích tử, đức Phật bảo họ đến nước Chiêm-ba 占波國.
100 Tứ phần: Đề-bà-đạt-đa đạt được thần túc.
 
Lúc ấy, có Tỳ-kheo khác nghe câu nói đó, nghĩ như vầy: “Tỳ-kheo Bạt-đề chắc nhớ chuyện vui thế gian, không thích Phạm hạnh.” Liền đến bạch Phật:
“Vừa rồi con nghe Bạt-đề nói: ‘Khoái thay! Khoái thay!’, chắc nhớ lại chuyện vui khi còn làm vua, không thích sống Phạm hạnh.”
Đức Phật bảo Tỳ-kheo ấy:
“Ngươi có thể gọi đến đây.”
Liền đến nói:
“Đại sư cho gọi ông.”
Bạt-đề liền đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đứng qua một bên.
Đức Phật hỏi Bạt-đề:
“Thật sự ông có nói ‘Khoái thay!’ phải không?”
Bạt-đề thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Lại hỏi Bạt-đề:
“Ông thấy được nghĩa gì mà nói khoái thay!?”
Bạt-đề thưa:
“Xưa kia con ở tại gia, con sống trong bảy lớp hào thành, bảy hàng voi, bảy hàng ngựa, bảy hàng xe, bảy hàng bộ binh; bốn loại binh bao quanh, mà bỗng nghe một tiếng gì khác lạ lòng kinh hoàng, lông dựng lên. Nay ở dưới bóng cây, nơi đất trống mà thản nhiên không lo, cho nên con đã nói ‘khoái thay!’.”
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Bạt-đề đã đắc La-hán, mà không thích Phạm hạnh là điều không thể có.”
Bấy giờ, đức Phật vì Bạt-đề nói bài kệ:
      [17c01]        Khoái thay! A-la-hán,
Không bị ân ái buộc,
Đã phá dục, sân, si,
Lại không bị lưới bủa.
Đã đến nơi Niết-bàn,
Không còn tâm uế trược,
Không nhiễm đắm nơi đời,
Giải thoát không các lậu.
Thấu triệt về năm uẩn,
Dạo qua bảy rừng pháp,
Nơi sở hành đại long,
Đã thắng mọi khủng bố,
Thành tựu mười chủng phần.
Long đức Tam-muội thiền,
Hết tất cả hữu lậu,
Là đệ nhất thế gian,
Bất động, không sợ hãi.
Không tái sanh đời sau,
Đã dứt, chỗ tịch diệt,
Hằng không báo khổ vui,
Trụ nơi trí vô học.
Thân này là cuối cùng,
Phạm hạnh kiên cố lập,
Không có điều không tin,
Trên đời, trong trời đất,
Lại không mọi dục lạc.
Đây gọi sư tử rống,
Không thể hơn đức Phật.
2. Nhân duyên Chúng Lạc (A-xà-thế)101
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn cùng các Đại đức Thanh văn nhận lời mời của long vương A-nậu-đạt.102 Điều-đạt vì chưa đắc thần thông nên không thể đi được, xấu hổ vô cùng, liền nghĩ như vầy: “Nay ta nên hỏi pháp tu thần thông.” Liền đến bạch Phật: “Xin Phật vì con dạy pháp tu thần thông.”103
Đức Phật vì ông mà dạy, Điều-đạt thọ giáo. Trong thời gian an cư, tiện đắc thần thông. Được thần thông rồi, suy nghĩ như vầy: “Ai nên giáo hóa trước? Rồi nghĩ như vầy: “Thái tử con vua Bình-sa104 tên Chúng Lạc, trước hết nên hóa đạo người này, sau đó ta sẽ giáo hóa những người khác.”
Nghĩ như vậy rồi, (Điều-đạt)* liền biến mất khỏi nơi Võng Lâm, hiện thành một đứa trẻ nít nằm ngửa, mút ngón tay, ở trên giường thái tử. Thái tử thấy đứa trẻ, hoảng sợ vô cùng, hỏi:
“Ngươi là trời hay là quỷ thần?”
Trả lời:
“Tôi là Điều-đạt, đừng nên sợ hãi.”
Thái tử nói:
“Nếu là Điều-đạt thì nên hiện nguyên hình trở lại.”
 

101 Tứ phần; Căn bản: Vị Sanh Oán 未生怨, dịch nghĩa. Phiên âm thường biết là A-xà-thế. Phá tăng sự 10 (tr. 147c6). Pāli: Ajātasattu/ Ajātasattu Vedehiputta, A-xà-thế Vi-đề-hy Tử.
102 Long vương A-nậu-đạt 阿耨達龍王. Skt. Anavatapta, Pāli, Anotatta. Một trong tám Long vương lớn, sống ở hồ A-nậu-đạt.
103 Căn bản 14, tr. 700c14: Thập lực Ca-nhiếp(diếp)-ba 十力迦攝(葉)波 Daśabala-kāśyapa (là một trong mười vị đại đệ tử của đức Phật).
104 Bình-sa vương 瓶沙王. Pāli: Bimbisāra/ Seniya Bimbisāra, vua  nước Ma-kiệt-đà.
 
Liền biến lại hình thái105 như cũ. Thái tử hoan hỷ, tôn thờ làm thầy, hằng ngày đến thăm hỏi, đem theo năm trăm cỗ xe. Điều-đạt lại hóa làm năm trăm đứa trẻ nằm ngửa, mút ngón tay trên xe. Lại dùng năm trăm cỗ xe chở thức ăn ngon bổ đến cúng dường. Lúc ấy, người trong nước đều cho đây là việc hiếm có, nói: “Điều-đạt có đại thần lực biến hóa như vậy, nên khiến thái tử [18a01] hằng ngày đến thăm hỏi, cúng dường các thức ăn ngon bổ”.
Ở đây, Điều-đạt không tự lượng sức mình, bèn muốn thu nhận nuôi dưỡng đồ chúng.
Bấy giờ, đức Thế Tôn ra khỏi Võng Lâm du hành trong nhân gian, đến nước Câu-xá-di,106 trú tại vườn Cù-sư-la.107 Khi ấy, Mục-kiền-liên đang ở một nơi riêng biệt. Nước này, trước đây có Kiều-trần-như Tử gọi là Kha-hưu,108 tịnh tu Phạm hạnh, đắc quả A-na-hàm, sanh lên cõi Phạm Thiên.109 Nửa đêm vắng lặng, từ cõi trời giáng hạ, phóng ánh sáng lớn, đến chỗ Mục-liên,110 đầu mặt kính lễ sát chân, thưa với Mục-liên: “Nay Điều-đạt, hiện các thần thông biến hóa thu phục111 thái tử Chúng Lạc và muốn nuôi đồ chúng, sợ ông ta (mưu tâm)* chắc sẽ phá hòa hiệp Tăng.”
 

105 Hán: Uy nghi 威儀.
106 Nước Câu-xá-di 拘舍彌國. Skt. Kauśāmbi, Pāli. Kosambī, 1 trong 16 nước lớn, và cũng là 1 trong 6 đô thị lớn ở Trung Ấn Độ. Tứ phần: Câu-thiểm-tỳ quốc 拘睒毘國.
107 Vườn Cù-sư-la 瞿師羅園. Skt. Ghoṣilārāma, Pāli. Ghositārāma, khu vườn này do Trưởng giả Cù-sư-la (Ghoṣila, dịch là tiếng hay, giọng dịu dàng) dựng tinh xá cúng dường cho đức Phật.
108 Kiều-trần-như Tử danh viết Kha-hưu 憍陳如子名曰柯烋 (Koliyaputta – An epithet Kakudha). Tứ phần: Ca-hưu-câu-la Tử 迦休拘羅子. Vin. ii. 185, Kakudha/ Kakudha Koliya; nguyên là thị giả của ngài Đại Mục-kiền-liên. Cf. A.iii. 122ff.
109 Tứ phần: Hoá tự tại thiên 化自在天; Vin.ii. 185: adhunā kālaṅkato aññataraṃ manomayaṃ kāyaṃ upapanno, tái sinh với thân khác do ý sinh.
110 Pāli. Moggallāna.
111 Hán: Hóa 化.
 
Nói như vậy rồi biến mất.
Sáng sớm hôm đó, Mục-liên sửa y phục, đến chỗ đức Phật, trình bày đầy đủ điều Kha-hưu vừa nói lên đức Phật. Đức Phật hỏi Mục-liên:
“Ý ông thế nào? Có đúng như lời Kha-hưu nói không?”
Thưa: “Ý con cũng như vậy.”
Đức Phật bảo Mục-liên:
“Đừng nói lời ấy, tại sao vậy? Vì trên trời, dưới trời, không thấy Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma, Phạm nào có thể thống lãnh đồ chúng của Phật.”112
Lại bảo Mục-liên: “Ở đời có năm hạng thầy,113 hiện nay đều có mặt:
1. Giới không thanh tịnh, tự nói thanh tịnh. Các đệ tử của họ đều biết sự thật, nhưng che giấu tội lỗi của họ để mong cầu lợi dưỡng.
2. Tà mạng, nịnh hót, quanh co, tự nói mình chánh trực; nhưng các đệ tử cũng che giấu điều đó.
3. Nói điều bất thiện, tự nói là lời thiện; nhưng các đệ tử vui mừng cho là thiện.
4. Kiến giải không thanh tịnh, tự nói là thanh tịnh, nhưng các đệ tử cho rằng kiến giải tịnh.
5. Nói lời phi pháp luật, nói là pháp luật, nhưng các đệ tử cũng cho là đúng pháp, mà không thể khiến cho người trí tin nhận.
Này Mục-liên, Như Lai giới tịnh, không có nịnh hót quanh co, lời nói không bất thiện, tri kiến thanh tịnh, nói năng như pháp, người trí tin nhận, không cần đệ tử che giấu và khen ngợi.
 

112 Cf. Vin. ibid., Phật cảnh giác Mục-liên: “Hãy giữ kín lời nói!”
113 Tứ phần: Ngũ chủng tôn 五種尊. Pāli: pañca satthāro.
 
Bấy giờ có Tỳ-kheo khác ở thành Vương Xá, an cư xong, mặc y bưng bát đến chỗ đức Phật, bạch: “Kính bạch đức Thế Tôn, Điều-đạt thu phục thái tử Chúng Lạc, hiện làm một đứa trẻ…. cho đến cúng dường các thức ăn ngon bổ.”
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Chớ hâm mộ những biến hóa này do Điều-đạt đã tạo ra để mong cầu lợi dưỡng. Nếu ai thọ nhận sự cung kính cúng dường này thì sẽ chịu mọi thống khổ lâu dài tăng thêm. Cũng như con chó dữ, dùng gậy đánh nó, nó sẽ lại dữ thêm. Điều-đạt cũng như vậy, nhận được nhiều sự cúng dường, phiền não lại tăng thêm.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói bài kệ:
     [18b01]  Người ngu thêm ác kia,
Do lợi dưỡng sanh ra.
Người si đoạn pháp thiện,
Giống như đầu lìa thân.
Không tu hạnh thanh tịnh,
Mà muốn nuôi đồ chúng,
Muốn ngồi trên mọi người,
Mong tất cả tôn kính.
Có người cầu lợi dưỡng,
Có người cầu Nê-hoàn, 
Lợi dưỡng hại pháp thiện.
 Tịch diệt trừ xan tham.
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Cây chuối, cây trúc, cây lau do ra quả mà chết. Con Cự Hư114 mang thai cũng bỏ mạng mình. Nay Điều-đạt tham cầu lợi dưỡng cũng lại như vậy.”
 

114 Cự Hư 駏驉: Giống con la, là do ngựa đực và con la cái giao phối mà sinh ra.
 
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn trùng tuyên nghĩa này, nói bài kệ:
Cây chuối vì quả chết,
Trúc, lau cũng như vậy.
Cự Hư mang thai chết,
Kẻ sĩ tham tự mất.
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ nước Câu-xá-di, tuần tự du hành đến thành Vương Xá, trú nơi núi Kỳ-xà-quật. Ngài được Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm-chí, cư sĩ cúng dường y thực, ngọa cụ và các thuốc men, cung kính, tôn trọng, khen ngợi, nhưng Ngài không hề nhiễm trước, giống như bông sen.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nói pháp cho vô số đại chúng vây quanh. Điều-đạt từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, để trống vai bên hữu, đầu mặt đảnh lễ sát chân, quỳ gối chắp tay bạch Phật:
“Kính bạch đức Thế Tôn, cúi xin Ngài an trụ, nay con sẽ tự thống lãnh chúng Tăng.”
Đức Phật nói với Điều-đạt:
“Xá-lợi-phất, Mục-liên còn chưa thể thống lãnh đồ chúng của Ta, huống nữa ông, người ngu si, ăn đờm dãi ư!”115
Khi ấy Điều-đạt nổi lòng phẫn hận: “Tại sao trước đại chúng, đức Thế Tôn lại mạ nhục ta thậm tệ như thế!” Do sanh ác tâm với đức Phật nên Điều-đạt bắt đầu tổn giảm thần túc. Lại nghĩ như vầy: “Đức Phật khen ngợi Xá-lợi-phất, Mục-liên mà hủy nhục ta”. Rồi lại sanh ác tâm với Xá-lợi-phất và Mục-liên, đó là lần thứ hai bị tổn giảm thần túc.
(Điều-đạt)* trở về lại trú xứ thuyết pháp cho quốc vương, đại chúng vây quanh. Trong chúng đó có một Tỳ-kheo đến bạch Phật:
 

115 Pāli, Vin.ii. 189: chavassa kheḷāsakassa, cái xác chết dính đàm dãi.
 
“Nay Điều-đạt nói pháp cho quốc vương, đại chúng vây quanh.”
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Điều-đạt không những đời này có được đại chúng này, mà đời quá khứ cũng đã từng có các Tỳ-kheo này.”
Đời quá khứ xa xưa có một Ma-nạp116 ở trong hang núi, tụng sách Sát-lợi (Sát-đế-lợi). Có một con cáo đồng ở xung quanh đó, chuyên nghe tụng sách, [18c01] tâm có điều hiểu, nghĩ như vầy: “Như ta hiểu lời sách này đủ để làm vua trong các loài thú”. Nghĩ như vậy rồi, liền bắt đầu du hành, gặp một con cáo đồng khác ốm yếu, liền muốn giết nó.
(Con cáo)* kia nói:
“Tại sao muốn giết tôi?”
Trả lời:
“Ta là vua của loài thú, ngươi không phục ta, cho nên phải giết.”
Cáo kia nói:
“Xin đừng giết tôi, tôi sẽ làm tùy tùng.”
Thế là hai con cáo cùng nhau du hành, lại gặp một con cáo nữa, cũng muốn giết nó. Đối đáp như trên và cũng xin được tùy tùng. Như vậy, lần lữa nó hàng phục tất cả loài cáo. Lại dùng bầy cáo hàng phục tất cả voi. Lại dùng những con voi hàng phục tất cả hổ. Lại dùng những con hổ hàng phục tất cả sư tử. Nhân đó, tạm thời được làm vua trong loài thú. Đã được làm vua rồi, lại nghĩ như vầy: “Nay ta đã là vua loài thú, thì không nên lấy thú làm vợ”. Liền cỡi voi trắng, điều khiển vô số loài thú, vây quanh thành Ca-di117 trăm ngàn vòng.
 

116 Ma-nạp 摩納: Pāli. Māṇava, người con trai tuổi trẻ, đồng tử, thiếu niên.
117 Thành Ca-di 迦夷城: Pāli. Kāsī.
 
Vua sai sứ hỏi: “Ngươi cùng các loài thú, tại sao làm như vậy?”
Con cáo đồng trả lời: “Ta là vua thú, nên lấy con gái của ông. Nếu gả cho ta thì hay, bằng không ta sẽ tiêu diệt nước ông.”
(Sứ thần)* về báo như vậy, nhà vua tập hợp quần thần cùng thương nghị. Chỉ trừ một vị thần (không đồng ý)*, tất cả  đều bảo nên gả. Tại sao vậy? Vì chỗ dựa của quốc gia chỉ nương vào voi, ngựa; ta có voi ngựa, đối phương lại có sư tử. Voi ngựa nghe hơi thở (của sư tử)* cũng sợ hãi nằm sát đất, có chiến đấu chắc không thắng được, bị các loài thú tiêu diệt. Sao tiếc một người con gái mà để mất một quốc gia!?”
Khi ấy, vị đại thần thông minh, mưu sâu tâu với nhà vua: “Theo nhận xét của thần thì xưa nay chưa từng nghe thấy, có con gái nhà vua nào đem gả cho một loài thú thấp hèn. Thần tuy yếu hèn nhưng muốn giết con cáo này, khiến bầy thú tự chúng sẽ chạy tán loạn.”
Vua liền hỏi: “Hãy trình bày mưu kế ra xem!”
Đại thần tâu: “Vua chỉ cần sai sứ hẹn ngày giờ. Trước ngày giao chiến, yêu cầu chúng một điều, điều đó là sư tử nên giao chiến trước, rồi rống sau. Chúng bảo ta sợ, tất ra lệnh sư tử rống trước, rồi giao chiến sau. Đến ngày giao chiến, vua ra lệnh cho (mọi người)* trong thành đều bịt lỗ tai lại.”
Vua áp dụng theo kế này, sai sứ hẹn ngày giờ và yêu cầu điều trên. Đến ngày giao chiến, lại sai người đưa tin yêu cầu sau đó mới xuất quân. Trong đoàn quân tiên phong muốn giao chiến, quả thật cáo đồng ra lệnh sư tử rống trước. Cáo đồng nghe tiếng sư tử rống, tim bị vỡ làm bảy mảnh, từ trên lưng voi rớt xuống đất, ngay lúc đó, các loài thú đều tẩu tán.
Nhân việc này, đức Phật nói bài kệ:
Cáo đồng lắm kiêu mạn,
Muốn tìm cầu vây cánh,
Kéo đến thành Ca-di,
Tự xưng là vua thú.
   [19a01] Người kiêu mạn cũng vậy,
Mưu toan lãnh đồ chúng,
Tại nước Ma-kiệt-đà,
Tự xưng là pháp chủ.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Vua Ca-di bấy giờ, chính là Ta. Đại thần thông minh, chính là Xá-lợi-phất. Vua cáo đồng, chính là Điều-đạt.118
Này các Tỳ-kheo! Xưa kia Điều-đạt dối trá để được vây cánh, nay cũng như vậy. Xá-lợi-phất, ông đến giữa chúng Điều-đạt công bố như vầy: ‘Ai chấp nhận năm pháp119 dạy của Điều-đạt thì người ấy sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng’.”
Tôn giả Xá-lợi-phất thưa:
 

118 Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, Căn bản: Không có mẩu chuyện này.
119 Ngũ phần 25, tr. 164a (Phần thứ 5, pháp Phá tăng): 1. không ăn muối. 2, không ăn sữa đặc. 3. không ăn cá thịt. 4. Chỉ xin ăn, không nhận mời. 5. Xuân, Hạ, 8 tháng ngồi giữa chỗ trống; Đông 4 tháng sống trong am cỏ. Tứ phần 4 (tr.594b01): Trọn đời khất thực, trọn đời mặc y phấn tảo, trọn đời ngồi nơi đất trống, trọn đời không ăn muối, trọn đời không ăn cá thịt. Thập tụng 36 (tr.259a22): 1. Mặc nạp y. 2. Chỉ khất thực. 3. Chỉ một lần ăn. 4. Ngồi giữa trời trống. 5. Không ăn thịt. Phá Tăng sự 10, tr. 149b8 (T24n1450): không dùng sữa; không ăn cá thịt; không ăn muối; không bứt bỏ sợi chỉ dài khi may y (?); chỉ sống trong thôn xá. Pāli, Vin. ii. 197, Vin. iii. 171: 1. Sống trong rừng. 2. Chỉ khất thực. 3. Mặc phấn tảo. 4. Sống dưới bóng cây. 5. Không ăn cá.
 
 
 
“Xưa kia con đã từng khen ngợi Điều-đạt, làm sao hôm nay lại chê trách được?”
Đức Phật dạy:
“Trước kia ông khen ngợi là đúng thật phải không?”
Thưa: “Là đúng thật.”
Đức Phật dạy: “Nay đáng chê trách, mà chê trách cũng lại đúng thật.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Nay nên bạch Nhị yết-ma, sai Xá-lợi-phất đến giữa chúng Điều-đạt quở trách Điều-đạt:
Một Tỳ-kheo bạch:
“Đại đức Tăng lắng nghe! Nay sai Xá-lợi-phất đến trong chúng Điều-đạt công bố rằng: ‘Nếu vị nào chấp nhận năm pháp dạy của Điều-đạt thì sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng.’ Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng lắng nghe! Nay sai Xá-lợi-phất đến trong chúng Điều-đạt công bố rằng: ‘Nếu vị nào chấp nhận năm pháp dạy của Điều-đạt thì sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng.’ Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, vị nào không chấp thuận xin nói.
Tăng đã sai Xá-lợi-phất rồi, Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Bấy giờ, tôn giả Xá-lợi-phất liền đến trong chúng của Điều-đạt, cao giọng xướng: “Nếu vị nào chấp nhận năm pháp dạy của Điều-đạt thì sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng.”
Khi ấy, trong hội chúng của Điều-đạt mọi người đều la rằng: “Sa-môn Thích tử lại ganh ghét nhau, thấy Điều-đạt nhận được cúng dường nhiều sự nên nói như vậy.”
Bấy giờ, vua Bình-sa đang có mặt trong chúng kia, tuyên lệnh rằng: “Đừng nói như vậy! Tại vì sao? Vì chúng của Phật thanh tịnh, không có ganh ghét vậy.”
Ngay lúc ấy, Điều-đạt nói với mọi người có muốn thấy hoa Mạn-đà-la120 trên trời không?
Mọi người nói:
“Muốn thấy.”
Điều-đạt liền ẩn mình trước mọi người, đến bên ao hoa, vừa muốn lấy hoa liền mất thần túc trở về chỗ ngồi cũ. Điều-đạt đã bị mất thần túc liền sanh ác tâm muốn hại đức Phật, thưa với thái tử:
“Nay phụ vương của thái tử cai trị đời bằng chánh pháp, theo chỗ tôi biết thì sự suy tàn vô thời hạn. Nhưng mạng người vô thường, trong nháy mắt khó bảo toàn. Vương vị này, phải nhanh chóng hà tất đợi lâu năm! Thái tử có thể mưu đồ nó để sớm được bốn biển. Còn tôi sẽ hại Phật, thay thế ngôi Pháp vương. Trong nước Ma-kiệt này sẽ có vua mới, Phật mới, [19b01] cùng hoằng hóa, không phải là điều tốt ư?”
Thái tử trả lời:
“Công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ nặng hơn trời đất,121 nhìn lại muốn trả mà chưa trọn! Tại sao nay thầy lại bảo tôi làm điều phản nghịch như vậy?”
Điều-đạt nghe như thế mà lòng không biết hổ thẹn, còn dùng lời xảo quyệt để dẫn dụ (thái tử)* theo ý mình, làm cho mê đắm và vui lòng chấp nhận những lời của Điều-đạt. Sau đó, thái tử bí mật mang một
 

120 Hoa Mạn-đà-la 曼陀羅華: Skt. māndārava, dịch là Thiên diệu, Duyệt ý (thứ hoa thơm làm vừa ý đẹp lòng); một trong bốn loại hoa ở cõi thiên giới. Trong kinh Pháp hoa nói rằng, khi Phật thuyết pháp, trời mưa xuống hoa Mạn-đà-la (Diệu pháp liên hoa kinh 1, tr. 2b07, T9n262).
121 Hán: Nhị nghi 二儀 (lưỡng nghi).
 
lưỡi kiếm bén đi vào cửa vương cung. Vì ôm lòng ác, phản nghịch nên bất giác run sợ, té xuống trước cửa vương cung, rồi đứng dậy. Quan giữ cửa thấy vậy liền nghĩ như vầy: “Thái tử thường vào với oai nghi đỉnh đạc, hôm nay như vậy, ắt sẽ có lý do”, liền đến hỏi.
Thái tử trả lời:
“Ta muốn giết vua cho nên như vậy.”
Lại hỏi:
“Thái tử làm theo lời ai dạy?”
Đáp:
“Điều-đạt.”
Các quan giữ cửa cùng bàn:
“Nên như thế nào?”
Vị thứ nhất bàn: “Nên giết tất cả Sa-môn và thái tử Chúng Lạc.”
Vị thứ hai bàn:
“Trước đây đức Phật đã sai Xá-lợi-phất tuyên bố sự ác nghịch của Điều-đạt, tại sao lại muốn giết hết Sa-môn? Tội này chỉ do thái tử và Điều-đạt, hai người mà thôi.”
Vị thứ ba bàn:
“Chúng ta không nên vội phán quyết tội này, phải tâu lên vua, vua sẽ có giáo sắc và sẽ phụng hành.”
Bàn bạc như vậy rồi, liền đem việc này tâu lên vua. Vua hỏi:
“Ý kiến của các khanh thế nào?”
(Các quan)* liền đem vấn đề trình bày đầy đủ. Nhà vua liền đuổi vị quan có ý kiến thứ nhất, hoán chuyển chỗ ở vị quan có ý kiến thứ hai, khen và trao thêm quyền hạn cho vị có ý kiến thứ ba.
Lại ra lệnh tập hợp quần thần để bàn việc này. Các quan đều nói:
“Ý kiến vị quan thứ hai là hợp lý mà nhà vua còn hoán chuyển địa vị, xem ra ý vua không chấp nhận có tác hại. Với hình phạt chính đã không áp dụng thì phải dùng hạ kế.” Các quan nói:
“Ngôi vua, thái tử vốn là người thừa kế vị. Vì ý muốn gấp làm vua nên ôm lòng phản nghịch này. Chỉ nhường ngôi cho thái tử thì ác tâm kia tất chấm dứt.”
Lời bàn này hợp với lòng vua, liền thoái vị, truyền ngôi cho thái tử, với vương hiệu là A-xà-thế. Khi mới lên ngôi vua, vì hưởng thụ ngũ dục lạc nên tâm sát nghịch tạm thời lắng xuống, chỉ trong thời gian ngắn như vậy, rồi (về sau)* nhân không có việc mà (A-xà-thế)* hại mạng phụ thân.
Bấy giờ, vua A-xà-thế có con voi rất hung hãn, Điều-đạt lén đến chỗ người nài voi nói: “Sáng nay Cù-đàm sẽ đi con đường này. Ông có thể vì tôi cho voi uống rượu khiến cho say, rồi thả nó chạy ra con đường này. Phật với tâm nhiều bình thản tất không tránh nó, do đó nó sẽ đạp chết; (tôi)* sẽ hậu tạ hiện vật cho ông.”
Ngày hôm sau, đến giờ thọ trai, đức Phật đắp y mang bát, cùng năm trăm đệ tử vào thành khất thực. Trước đó, người nài voi đã cho con voi uống rượu say. Từ xa thấy đức Phật đến, ông ta liền thả voi ra. Những người kính tín Phật pháp, thấy thả con voi say, đều đến bạch Phật: [19c01] “Cúi xin đức Thế Tôn nên đi theo con đường khác.”
Năm trăm vị đệ tử cùng A-nan cũng bạch như vậy.
Đức Phật ba lần đều trả lời:
“Không can chi! Rồng còn không hại ta được!”
Các chúng đệ tử đều vô tình122 bỏ Phật theo đường khác, chỉ có tôn giả A-nan một mình đi theo sau. Khi ấy người xem bốn phía đông
 

122 Hán: Bất giác 不覺.
 
đúc, mọi người bàn tán: “Nay hai rồng đấu nhau, xem ai đắc thắng”. Bọn ngoại đạo thì nói: “Voi, rồng sức đều mạnh, chắc là hơn người”. Đệ tử của Phật nói: “Rồng trong loài người, đạo cao đức trọng, chắc voi bị hàng phục.” (Lời qua tiếng lại)* không lý không chứng, nhân đó gom góp tiền vàng cá nhau hơn thua. 
Bấy giờ, voi say từ xa trông thấy Phật lại, tai phe phẩy, mũi khì hơi mạnh, chạy đến đức Phật. A-nan sợ hãi, hoảng hốt vô tình chui vào dưới nách Phật. Đức Phật bảo A-nan:
“Vừa rồi chính ông đã nghe ba lần ‘Không can chi!’ Tại sao không tin còn hoảng sợ đến thế?”
Đức Phật thấy voi tới, Ngài liền nhập Từ tâm Tam-muội mà nói kệ:
Ngươi đừng hại Đại long,
Đại long ra đời khó.
Nếu ai hại Đại long,
Đời sau đọa ác đạo!
Voi nghe kệ rồi, dùng vòi trải mặt đất, ôm chân đức Thế Tôn. Trong chớp nhoáng nhìn lên nhìn xuống đức Phật, đi quanh bên hữu ba vòng, rồi lui. Từ đó về sau, nó thành một con voi hiền lành, thật là kỳ lạ! Mọi người đều khen ngợi:
“Sa-môn Thích tử không dùng đao gậy mà hàng phục được con voi hung dữ này”. Nhân dân trong nước không còn bị khủng bố nữa. Điều này sao mà sung sướng thay! Các ngoại đạo thảy đều hổ thẹn, còn chúng đệ tử của đức Phật thì vui mừng hớn hở, thu được hơn bảy mươi vạn tiền vàng.
Đức Phật đã hàng phục voi, rồi lại nói kệ:
Voi say đầy sân nhuế,
Hướng đến đấng Đạo sư.123
 

123 Hán: Thiên trung thiên 天中天.
 
Trăm họ đều chứng kiến,
Gom tiền cá hơn thua.
Thân voi như Thái sơn,
Sức thắng sáu mươi voi.
Tiếng vang động tâm người,
Rống lên phá quân địch.
Đức đại lực Đạo sư,
Thương chúng sanh, xuất thế,
Vì muốn độ voi dữ,
Nên đứng ngay trước nó.
Hàng voi, mọi người thấy.
Đạo tục thảy vui mừng,
Khen Phật hàng voi dữ,
Giống như sư tử vương.

Sau khi Điều-đạt thấy như vậy nghĩ: “Nay dùng phương thức này hại Phật không được, lại phải tìm một người hung bạo không biết Phật là ai, dùng của để dụ với giá đắt để đến giết Phật”. (Điều-đạt)* liền đi khắp nơi tìm kiếm, gặp một người đàn ông vạm vỡ, bèn nói:
“Ông vì tôi giết Phật, [20a01] sẽ hậu tạ.”
Người kia ham của nên xin đi. Bấy giờ, đức Phật đang kinh hành nơi đất trống, từ xa thấy người kia, Ngài dùng Từ tâm Tam-muội bủa khắp người ông, vẫy tay gọi. Người kia bất chợt buông dao, đi vội đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch Phật rằng:
“Nay con si cuồng, muốn hại đức Thế Tôn. Tự biết có tội nặng, xin cho phép con sám hối.”
Đức Phật dạy:
“Ông thật là ngu si! Tại sao vì của mà muốn hại đức Như Lai? Ở trong pháp của Ta, nếu ai biết có tội mà sám hối thì sẽ tăng trưởng căn lành.”
Tiếp theo vì ông mà nói pháp, luận về bố thí, trì giới, sanh thiên; tại gia thì nhiễm ô trói buộc, xuất thế thì an lạc. Đức Phật biết tâm ý

người ấy vui mừng nên vì ông thuyết pháp nói về khổ, tập, diệt,124 đạo. (Người ấy)* nghe pháp được khai giải, ở trong các pháp xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Thấy pháp đắc quả rồi, tự quy y Tam bảo, thọ trì năm giới. Đức Thế Tôn khiến trở về theo con đường khác, vì Điều-đạt lại mộ hai người (khác)* khiến họ giết người trước, nhằm thủ tiêu tiếng xấu. Tiếp lại sai khiến bốn người, cho đến ba mươi hai người, đều đến trước chỗ Phật và cũng như những lần trước đức Phật nói pháp khiến cho tất cả đều chứng quả Tu-đà-hoàn.
Lúc ấy, các Tỳ-kheo nghe Điều-đạt sai người hại Phật, đều cầm đao trượng (đến để)* bảo vệ đức Thế Tôn. Họ phân bố nhau đứng mỗi (nhóm)*một bên. Theo thường pháp chư Phật là mặt trời xuất hiện thì ra khỏi phòng. Sáng hôm đó, Ngài đi ra thấy các Tỳ-kheo đang đứng hai bên, hỏi: “Vì lý do gì các ngươi cầm dao gậy đứng đây?”
Các Tỳ-kheo thưa: “(Chúng con)* nghe Điều-đạt sai người muốn hại Thế Tôn, không thể tự an tâm, nên đứng đây.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Như Lai mà bị hoạnh tử (chết oan), không thể có điều này. Thế gian có năm hạng thầy cần phải phòng hộ, Như Lai thì không cần. Các ngươi, mỗi người tùy theo chỗ an mà tự bảo hộ lấy tâm mình.”
Điều-đạt biết rồi, lại nghĩ như vầy: “Lần này ta lại không thể hại được Phật; lại phải tìm người cùng tự thân dẫn đi mới mong có kết quả”. (Điều-đạt)* liền tìm được một người, cùng lên núi Kỳ-xà-quật. Bấy giờ, đức Thế Tôn đang đi kinh hành trên tảng đá dưới núi. Điều-đạt liền sai người kia xô đá hại Phật. Người kia vừa móng tâm
 

124 Hán: Tận 盡.
 
xô đá thì tay chân không cử động được. Ý vừa nghĩ công đức Phật lớn thì tay chân bình phục lại.
Điều-đạt thấy vậy, nổi sân hận nói: “Sao ngươi bạc nhược, hãy nhanh chóng biến đi!?”
Liền tự tay bưng một tảng đá lớn đẩy xuống hại Phật; may dưới núi có vị Thần tên là Kim-bệ-lô,125 đỡ lấy hòn đá quăng ra xa, mảnh nhỏ văng trúng ngón chân cái Phật, làm bị thương. Đức Thế Tôn thấy vậy, nói với Điều-đạt: [20b01]
“Nay ông phạm phải tội Vô gián. Nếu dùng tâm ác làm thân Phật chảy máu, chắc chắn sẽ đọa vào A-tỳ126 địa ngục.”
Điều-đạt lại nghĩ như vầy: “Ta đã không thể hại được Phật, chỉ còn có cách phá sự hòa hợp Tăng.127 Phật có đại thần lực, nếu ta có thể phá được Tăng của ông ta thì danh của ta sẽ chấn động khắp nơi”.
Đức Phật biết ý nghĩ đó, nói với Điều-đạt:
“Ông chớ nên phá hòa hợp Tăng. Nếu Tăng đã bị phá mà ai có thể hòa hợp thì người đó sẽ được sanh lên trời, hưởng vui một kiếp. Nếu Tăng đang hòa hợp mà người nào phá thì (người đó)* sẽ đọa vào địa ngục chịu khổ một kiếp.”
Điều-đạt nghe rồi tạm thời xả bỏ tâm này, nhưng sau đó lại tìm cách sanh lại những ý nghĩ như trên. Đức Phật cũng khuyên ngăn như ban đầu, liền nói kệ:
 

125 Kim-bệ-lô 金鞞盧: Skt. Kumbhīra, Pāli. Kimbila, còn gọi là Kim-tì-la, Quân-tì-la v.v... Hán dịch là Long vương, Giao long...; là vị thần hộ vệ thành Vương Xá, Trung Ấn Độ.
126 A-tì 阿鼻: Skt. Avīci, dịch là vô gián 無間 (không gián đoạn). Kinh Trường A-hàm 1, tr. 125a23, T01n01: Tội nhân nơi đây (địa ngục), trong khoảnh khắc búng móng tay, không có một giây phút nào là không khổ. Vì vậy gọi là địa ngục Vô gián.
127 Tứ phần: Phá Tăng luân 破僧輪; Pāli: saṅghabhedam, cakkabhedam: Phá Tăng và phá luân (xe pháp).
 
Chúng Tăng hòa hợp vui,
Hòa hợp thường an ổn.
Nếu phá hòa hợp Tăng,
Khổ địa ngục một kiếp .
Chúng Tăng hòa hợp vui,
Hòa hợp thường an ổn.
Hàn gắn Tăng bị phá,
Hưởng vui trời một kiếp.
Nếu chia rẽ riêng biệt,
Thường nói lời bất thiện,
Để phá hòa hợp Tăng,
Khổ địa ngục một kiếp.
Không chia rẽ riêng biệt,
Thường hay nói lời lành,
Để hàn gắn Tăng phá,
Hưởng vui trời một kiếp.

Điều-đạt nghe rồi, tạm thời từ bỏ ý này, nhưng bỗng sau đó phát sanh trở lại mạnh hơn trước. Lúc ấy, các Tỳ-kheo nghe Điều-đạt muốn phá hòa hợp Tăng, liền đến bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng mọi cách chuyển lời khiển trách đến Điều-đạt, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một Tỳ-kheo thân quen với Điều-đạt đến can gián:
‘Thầy đừng phá hòa hợp Tăng, đừng làm việc phá Tăng, nên cùng Tăng hòa hợp, vì cùng Tăng hòa hợp, nên hoan hỷ không tranh chấp, một lòng, cùng học (một Thầy)*, hòa hợp như nước với sữa, cùng nhau hoằng hóa lời Đại Sư dạy sống an lạc.’
Nếu thuận tùng thì tốt, bằng không thuận tùng thì sai nhiều Tỳ-kheo. Nếu lại không thuận tùng thì Tăng nên đến can gián.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, ba lần như vậy, đều không thuận tùng. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách rồi, đem việc này trình lên

/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »