Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 39: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG II: TĂNG TÀN. VIII. Vô Căn Hủy Báng: A. Duyên Khởi (Trang 138 - 146)

VIII. VÔ CĂN HUỶ BÁNG61
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.62 Khi ấy, vua Bình-sa hằng ngày theo thứ tự thỉnh năm trăm vị Tăng thọ trai tại thành nội. Thần dân cũng lại như vậy. Khi ấy, các Tỳ-kheo ai ai cũng đều hành đạo, chưa có người chuyên biết về việc sai thọ thỉnh (nhận lời mời thọ trai)* theo thứ tự. Nhóm sáu Tỳ-kheo thường đến chỗ tốt. Mọi người hỏi: “Chúng con vì Tăng thiết trai mời theo thứ tự, tại sao các Trưởng lão thường đến mà không thấy các vị khác?”
Họ quở trách như vậy mà (nhóm sáu Tỳ-kheo)* vẫn không thôi. Khi ấy, Đà-bà Lực Sỹ Tử,63 mười bốn tuổi xuất gia hành đạo, ở chỗ yên tịnh nghĩ như vầy: “Hiện nay, vua Bình-sa hằng ngày theo thứ tự thỉnh năm trăm vị Tăng thọ trai tại thành nội. Thần dân cũng như vậy, mà Tăng không có người sai phó hội theo thứ tự, nên đưa đến việc Lục quần lựa chọn chỗ tốt (mà đến)*, làm thất vọng mọi người, và mất đi mọi ý nghĩa người cúng dường. Nếu đến tuổi 20, ta thọ giới Cụ túc, đắc A-la-hán, đặng Lục thần thông, sẽ vì chúng Tăng làm người sai phó hội64 và phân phối ngọa cụ”.
 

61 Tăng-kỳ 6, tr. 280a19; Tứ phần 3, tr. 587a25; Thập tụng 4, tr. 22a8; Căn bản 13, tr. 691b12. Vin. iii. 158.
62 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành 舍衞城; Tứ phần: Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ; Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城. Pāli: Rājagaha.
63 Tăng-kỳ: Đà-phiêu Ma-la Tử 陀驃摩羅子; Tứ phần: Đạp-bà-ma-la Tử 沓婆摩羅子; Thập tụng: Đà-phiêu Lực Sỹ Tử 陀驃力士子; Căn bản: Thật Lực Tử 實力子. Pāli: Dabba Mallaputta.
64 Hán: Sai hội 差
會, phân phối Tỳ-kheo theo thứ tự đi thọ trai khi được cư sĩ thỉnh. Thập tụng 4, tr.32a17: Sai hội như Ngũ phần. Tăng-kỳ 7, tr. 281a21: Điển tri cửu sự典知九事, theo thứ tự mời thọ thực; theo thứ tự chia phòng xá; theo thứ tự phân y vật; theo thứ tự phân hoa hương; theo thứ tự phân dưa trái; theo thứ tự cung cấp nước nóng; theo thứ tự phân chia bánh; theo thứ tự cắt đặt người công tác. Tứ phần  3, tr. 587b4: Sai thứ thọ thỉnh phạn thực 差次受請飯食, phân phối Tỳ-kheo thứ tự đi thọ trai khi được cư sĩ thỉnh. Căn bản 13, tr. 696a5: Phân thực nhân 分食人, người phân phối đồ ăn thức uống cho chúng Tăng. Pāli: bhattudesaka, người phân phối thức ăn cho các Tỳ-kheo.
 
Đến tuổi 16, Đà-bà đắc quả A-la-hán, đạt Lục thần thông, 20 tuổi thọ giới Cụ túc, liền nghĩ như vầy: “Trước đây ta nguyện vì chúng Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ, nay đã đến lúc nên làm việc đó”. Liền đến thành Vương Xá, chỗ các Tỳ-kheo, nói lên lời nguyện trước đây của mình. Các Tỳ-kheo liền bạch Phật, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi Đà-bà:
“Thật sự ngươi muốn vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ phải không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Đà-bà vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ.”
Tăng nên bạch nhị yết-ma, sai một Tỳ-kheo bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tỳ-kheo Đà-bà muốn vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Đà-bà này muốn vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không chấp thuận xin nói.
Tăng đã chấp thuận Tỳ-kheo Đà-bà làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ rồi, Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”65
 

65 Tăng-kỳ, Thập tụng, Căn bản: Không có đoạn văn Bạch nhị yết-ma này. Tứ phần như Ngũ phần.
 
Bấy giờ, Đà-bà liền vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ. Khi phân phối ngọa cụ, (những vị)* thiểu dục tri túc cùng (ở với quý vị)* thiểu dục tri túc; ưa yên tịnh thì cùng ưa yên tịnh; tụng Tu-đa-la (kinh) thì cùng tụng Tu-đa-la; trì luật thì cùng trì luật; pháp sư cùng pháp sư [15b01]; ưa tán tụng66 thì cùng ưa tán tụng; A-luyện-nhã67 cùng A-luyện-nhã; khất thực cùng khất thực; ngồi thiền thì cùng ngồi thiền. Trong những hạnh khác nhau như vậy, đều được xếp theo thuộc loại của nó, tùy nghi mà sắp xếp chỉ dẫn các nơi phòng ốc, khiến tất cả các Tỳ-kheo đều được an ổn. Tỳ-kheo các nơi, có vị đến vào lúc sẩm tối, vội đến Đà-bà để xin chỗ ở thì Đà-bà liền nhập Hỏa quang Tam-muội, tay trái xuất phát ánh sáng, tay phải chỉ chỗ ngọa cụ một cách chu toàn.
Khi ấy, những nơi xa nghe Tỳ-kheo Đà-bà vì chúng Tăng thành Vương Xá làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ có đức như vậy, đều nghĩ như vầy: “Ta sẽ đến đó để thăm hỏi đức Thế Tôn, cùng diện kiến Đà-bà và xem thần lực”. Họ bắt đầu đi cho đến sẩm tối và đến chỗ Đà-bà xin chỗ nghỉ ngơi. Đà-bà đều xếp chỗ đúng pháp, theo thứ tự sai người đi phó hội cũng lại như vậy.
Bấy giờ, thành Vương Xá có gia chủ Thiện Phạn, thấy pháp đắc quả, hằng ngày đích thân đến mời hai Tỳ-kheo để thiết trai thượng vị. Vì phước đức của huynh đệ Từ Địa68 đều mỏng nên khi chia ngọa cụ cũng như mời phó hội theo thứ tự thường gặp phải thứ thô dở. (Hôm nay)* may mắn, gặp được sai đến nhà này. Thiện Phạn biết rồi liền nghĩ như vầy: “Hai vị này là người ác, không hạnh thanh tịnh, sao có
 

66 Pāli. bhāṇaka, (người) đọc tụng, ca vịnh.
67 A-luyện-nhã 阿練若: Còn gọi là A-lan-nhã, Skt. araṇya, Pāli. arañña, dịch là núi rừng, đồng hoang, chỉ những nơi yên tĩnh, vắng vẻ, thích hợp cho người xuất gia tu hành cư trú.
68 Tăng-kỳ 7: Lục quần Tỳ-kheo 六群比丘. Tứ phẩn 3: Từ Địa Tỳ-kheo 慈地比丘. Thập tụng 4: Di-đa-la-phù-ma 彌多羅浮摩, một người. Căn bản 13: Hai Tỳ-kheo Thiện Hữu và Đại Địa 善友大地. Pāli: Mettiyabhummajakā bhikkhū, các Tỳ-kheo đồng bọn của Mettiya và Bhummaka, trong nhóm sáu Tỳ-kheo.
 
thể nhận sự cúng dường (trai phạn)* thượng vị của ta!” lập tức trở về, nói với vợ ông rằng: “Bà chỉ nên làm thức ăn thô dở thôi.” Khi anh em Từ Địa đến thì sai đứa ở trải tòa xấu ngoài cửa (để đón)*.
Người vợ vâng lời, chuẩn bị thức ăn thô dở. Khi huynh đệ Từ Địa mặc y mang bát đến nhà Thiện Phạn, an tọa nơi tòa, trong khi đó bọn tôi tớ mang thức ăn xấu ra. Từ Địa thấy vậy, liền hỏi: “Này chị em! Nhà ngươi thường làm thức ăn ngon, tại sao nay thô dở vậy?”
Bọn tôi tớ thưa:
“Tôi là kẻ thấp hèn, không biết lý do.”
Ăn xong về liền, trên đường đi, Từ Địa mắng (thầm)* Đà-bà Lực Sỹ Tử: “Cần phải khiến cho ngươi chịu khổ cực, về đến trú xứ rồi, ta sẽ đến chỗ các Thượng tọa nói Đà-bà Lực Sỹ Tử, làm việc theo ưa, giận, si, sợ. Nếu sợ (ai)* thì cho đồ tốt, không sợ thì cho đồ xấu.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Các thầy không nên nói những lời như vầy: Tỳ-kheo Đà-bà làm việc theo ưa, giận, si, sợ. Tại sao vậy? Vì Tỳ-kheo Đà-bà đắc A-la-hán, đủ sáu thần thông mà làm việc theo ưa, giận, si, sợ là điều không thể có.”
Từ Địa nói:
“Chính vì đắc thần thông nên thấy biết được nhà nào có (thức ăn)* ngon, nhà nào có (thức ăn)* dở; ngon thì mời người khác, dở thì liền sai tôi, cho nên tôi nói là ‘theo ưa, giận, si, sợ’.” Nói những lời như vậy rồi đến nơi khác.
Trước hết là gieo tiếng xấu cho Đà-bà và sau đó, đến chỗ cô em ni Di-đa-la69 nơi thành Vương Xá. [15c01] Di-đa-la thấy hai anh đến,
 

69 Tứ phần 3, tr. 587c18: Tỳ-kheo-ni Từ, 比丘尼慈. Thập tụng 4, tr. 22a23: Tỳ-kheo-ni Di-đa-la 比丘尼彌多羅. Căn bản 14, tr.696a28: Tỳ-kheo-ni Hữu Nữ比丘尼 友女. Pāli. Mettiyā.
 
ra nghinh đón, đảnh lễ chào hỏi. Huynh đệ Từ Địa đều không nói với nhau. Di-đa-la thưa:
“Em không nhớ đã phạm gì, tại sao hai anh như vậy?”
Từ Địa trả lời:
“Cô không giúp tôi nên khiến đưa đến việc Đà-bà làm khổ tôi như vậy.”
Di-đa-la hỏi:
“Anh muốn em trợ giúp nhau bằng cách nào?”
Từ Địa bảo:
“Nếu cô giúp tôi thì có thể đến chỗ đức Phật thưa: ‘Bạch đức Thế Tôn, ở trong không sợ hãi, ngược lại đưa đến sự sợ hãi. Nay con không tìm ra nơi nào có được an ổn! Đà-bà vốn là người Phạm hạnh, bỗng nhiên làm ô nhiễm con, phạm Ba-la-di.’”
Di-đa-la nói:
“Đà-bà thanh tịnh, nếu em hủy báng người thì Tăng tất sẽ tác (pháp)* Tự ngôn, đuổi em. Em ra khỏi chúng sẽ nương tựa vào nơi nào?”
Từ Địa vẫn nói:
“Anh sẽ làm chứng cho em để đuổi Đà-bà, làm gì có việc em bị tác (pháp)* Tự ngôn và bị đuổi!”
Di-đa-la nói:
“Nếu Tăng đuổi Đà-bà thì em được gì khác sao?”
Từ Địa vẫn nói:
“Chỉ cần khiến đức Thế Tôn xua đuổi Đà-bà thì Đà-bà sẽ bị anh đứng ra trục xuất, cũng lại là khổ sao!? Chúng ta tự sẽ được nơi an ổn, tốt đẹp.”
Vì kính trọng anh nên em gái không dám trái mệnh, liền đến chỗ đức Phật bạch như trên lên Ngài.
Bấy giờ, Đà-bà và La-hầu-la đang đứng hai bên đức Phật, Phật hỏi Đà-bà:
“Ngươi có nghe những gì Di-đa-la đã nói không?”
Thưa:
“Con đã nghe, nhưng Thế Tôn tự biết việc đó (cho con.)*”
Ba lần hỏi và trả lời cũng như vậy.
Bấy giờ, La-hầu-la bạch Phật:
“Bạch đức Thế Tôn, phiền gì phải ba lần hỏi Đà-bà, chỉ cần tẫn xuất cô ni này.”
Đức Phật dạy:
“Nếu Di-đa-la dùng việc này phỉ báng ngươi, thì ngươi nên như thế nào?”
Thưa:
“Con cũng sẽ nói, ‘việc này Phật tự biết cho’.”
Đức Phật dạy:
“Ngươi có thể như vậy, Đà-bà cũng vậy sao!?”
Đức Phật dạy Đà-bà:
“Ngươi nên đứng dậy, tự biện minh, nay không phải lúc im lặng. Ngươi nên nhớ nghĩ, có thì nói có, không thì nói không, không được trực ngôn nói: ‘Phật tự biết điều này’.”
Đà-bà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, quỳ gối chắp tay thưa Phật:
“Bạch đức Thế Tôn, từ khi con sinh đến nay, dù trong mộng, cũng chưa từng có tưởng niệm này. Hôm nay làm sao có được để nhớ biết?”
Đức Phật khen:
“Lành thay! Lành thay! Ông đã nhanh chóng tự biện minh. Người muốn tự biện minh cần phải như vậy.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nên trao cho Đà-bà Ức niệm Tỳ-ni,70 không nên cử tội, nên bạch Tứ yết-ma trao cho Di-đa-la pháp Tự ngôn diệt tẫn.”
Một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Di-đa-la này tự nói ‘Đà-bà làm ô nhiễm tôi’. Nay Tăng trao cho pháp Tự ngôn diệt tẫn. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Di-đa-la này tự nói: ‘Đà-bà làm ô nhiễm tôi’. Nay Tăng trao cho pháp Tự ngôn diệt tẫn. [16a01] Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, nếu ai không chấp thuận xin nói.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
“Tăng đã chấp thuận trao cho Tỳ-kheo-ni Di-đa-la pháp Tự ngôn diệt tẫn rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”71
Tỳ-kheo-ni Di-đa-la bị diệt tẫn rồi, du hành trong nhân gian. Huynh đệ Từ Địa vẫn nói với các Tỳ-kheo rằng: “Đà-bà Lực Sỹ Tử phá hoại Phạm hạnh em tôi, cho nên khiến đưa đến (tình trạng)* như vậy.”
 

70 Để bản: Tỳ-kheo 比丘.
71 Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, Căn bản: không có đoạn văn bạch tứ Yết-ma này.
 
Các Tỳ-kheo lại đem sự việc bạch lên Phật, đức Phật nhân việc này tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Các ông nên kiểm vấn lại Từ Địa là việc ông nói Đà-bà phá hoại Phạm hạnh em ông, là thật hay là hư?”
Các Tỳ-kheo vâng lời, liền hỏi Từ Địa, Từ Địa trả lời:
“Điều tôi nói là sự thật.”
Tăng lại hỏi:
“Ông thấy chỗ nào, thấy khi nào, thấy thế nào?”
Trả lời:
“Tôi thấy chỗ đó, tôi thấy khi đó, tôi thấy như vậy,”
Tăng lại hỏi Đà-bà tiếp:
“Khi ấy, ông ở chỗ nào?”
Trả lời: “Tôi ở chỗ đó.”
Tăng lại hỏi Từ Địa:
“Địa điểm không tương ưng, thời gian không tương ưng, tại sao ông nói chỗ đó, lúc đó, thấy như vậy?”
Lại hỏi Từ Địa:
“Nếu đối trước một vị Tỳ-kheo có lòng tin kiên cố mà nói láo thì tội nặng như tổn hại vô số chúng sanh. Trước một vị kiên cố đối với pháp (mà nói láo)* thì họ mắc tội nặng hơn 100 vị có lòng tin kiên cố. Lần lượt như vậy, đối trước Tăng mà nói láo, thì tôi của họ nặng hơn đối 100 vị A-la-hán.”
Lại nói với Từ Địa:
“Nay Tăng tập hợp không tùy theo ưa, giận, si, sợ, ông có thể nói lại (điều đó)* là sự thật hay hư dối?”
Từ Địa nói: “Đà-bà tùy theo ưa, giận, si, sợ nên tôi phải nói như vậy.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ đức Phật để trình bày sự việc lên Ngài.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Từ Địa:
“Thật sự ông đã dùng Ba-la-di không căn cứ hủy báng Đà-bà phải không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách: “Ông là người ngu si, tại sao dùng Ba-la-di không căn cứ hủy báng Tỳ-kheo Phạm hạnh thanh tịnh? Ông há không nghe có ba hạng người72 đọa vào địa ngục sao!?
Một, là phạm giới, không có pháp của Sa-môn mà tự nói mình có, không tu Phạm hạnh mà tự nói mình tu; giống như hạt giống hủ bại ở trong Phật pháp.
Hai, là thấy như vầy, nói như vầy: ‘Dâm dục không phải là điều xấu’, rồi phóng dật.
Ba, là dùng Ba-la-di không căn cứ hủy báng Tỳ-kheo thanh tịnh Phạm hạnh. Ba hạng người này chắc chắn đọa vào địa ngục. Tại sao nay ngươi lại làm việc ác này?”
Đức Phật lại dùng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
 

72 Tứ phần 4, tr. 388b16: Hữu nhị chủng nhân 有二種人. Thập tụng 4, tr. 22c29;  Căn bản 14, tr. 697b10: Hữu tam chủng nhân 有三種人 như Ngũ phần.
 
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »