C. THÍCH TỪ
Ác tánh khó dạy:140 không nhận sự răn dạy, không có tâm cung kính, cho mình là phải, cho người là trái.
Đồng học kinh luật: Kinh là tất cả lời Phật dạy. Luật là Ba-la-đề-mộc-xoa.
D. PHẠM TƯỚNG
Khi sai một Tỳ-kheo thân quen đến can mà bỏ thì phạm một Đột-kiết-la hối quá, cho đến không can mà tự bỏ đều giống như giới trên đã nói.
A. DUYÊN KHỞI
Đức Thế Tôn ở tại thành Xá-vệ.142 Khi ấy, ấp Kiết-la143 có hai Tỳ-kheo, một người tên An-bễ,144 người thứ hai tên Phân-na-bà,145 rủ
140 Hán: Ác tánh nan cộng ngữ 惡性難共語. Tăng-kỳ: Tự dụng lệ ngữ 自用戾語 (dùng lời ngang ngược bướng bỉnh). Tứ phần, Căn bản: Ác tánh bất thọ nhân ngữ 惡性不受人语 (tánh ngoan cố không nhận lời của người). Thập tụng: Ác tánh lệ ngữ 惡性戾語 (tánh ngoan cố nói lời ngang ngược bướng bỉnh). Pāli: dubbacajātiko, bản tính khó nói; khó nói chuyện; không nhận lời khuyên can.
141 Tăng-kỳ 7, tr. 286c16: Tăng-già-bà-thi-sa 13; Tứ phần 5, tr. 596c17, Thập tụng 4, tr. 26b9, Căn bản 15, tr. 705a10: Tăng-già-bà-thi-sa 12. Pāli, Saṅghādisesa 13.
142 Tăng-kỳ 7, tr. 286c16; Tứ phần 5, tr. 596c17; Thập tụng 4, tr. 26b9: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城, Căn bản 15, tr. 705a10 Thất-la-phạt thành: 室羅伐城.
143 Kiết-la ấp 吉羅邑. Tăng-kỳ: Ca-thi Hắc sơn tụ lạc 迦尸黑山聚落. Tứ phần: Ky-liên 羈連.
Thập tụng: Hắc sơn thổ địa 黑山土地, thuộc nước Xá-vệ. Căn bản: Chỉ-tra sơn 抧</gaiji>吒山. Pāli: Kiṭāgiri.
144 An-bễ 頞髀. Tăng-kỳ: Trong nhóm lục quần Tỳ-kheo. Tứ phần: A-thấp-bà 阿濕婆. Thập tụng: Mã Tú 馬宿. Căn bản: A-thấp-phược-ca 阿濕薄迦. Pāli: Assaji. Đây là Tỳ-kheo trong nhóm Lục quần (chabbaggiyā); không phải Assaji Thera trong năm Tỳ-kheo đầu tiên (pañcavaggiya).
145 Phân-na-bà 分那婆. Tăng-kỳ: Trong nhóm lục quần Tỳ-kheo. Tứ phần: Phú-na-bà-sa 富那婆娑. Thập tụng: Mãn Tú 滿宿. Căn bản: Bổ-nại-phạt-tố 補捺伐素. Và thêm một người thứ ba nữa: Bán-đậu-lô-hê-đắc-ca 半豆盧呬得迦. Pāli: Punabbasu.
[22a01] Khi hai vị đến, các cư sĩ già, trẻ, lớn, nhỏ đều ra nghinh đón, hỏi chào, đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một bên. Khi ấy, Mục-liên vì họ hiện thần biến, chia thân ra thành trăm ngàn rồi hiệp lại làm một, đi xuyên qua vách đá, vượt qua nước như trên đất, ngồi nằm trên hư không như chim dang cánh, thân đến Phạm thiên, tay sờ mặt trời, mặt trăng; phần trên của thân tuôn ra lửa, phần dưới của thân tuôn ra nước; phần trên thân tuôn ra nước, phần dưới thân tuôn ra lửa; hoặc hiện nửa thân, hoặc hiện toàn thân; trồi Đông, lặn Tây; trồi Tây, lặn Đông; trồi Nam, lặn Bắc; trồi Bắc, lặn Nam; trồi giữa, lặn bên; trồi bên, lặn giữa… Hiện thần thông biến hóa rồi trở lại ngồi vào chỗ cũ.
Các cư sĩ đều xầm xì nói với nhau rằng: “Mục-liên giỏi biết các trò huyễn thuật thật! Điều này đúng như vậy.”
Bấy giờ, Xá-lợi-phất vì họ nói diệu pháp. Đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, đầy đủ thanh bạch thể hiện Phạm hạnh. Nói pháp này rồi, ngồi im lặng.
Lúc này, các cư sĩ cũng lại bàn với nhau:
“Xá-lợi-phất giỏi biết về chú thuật.” Kiểm chứng lại cũng đúng.Lúc đó mọi người đều không tin nhận, họ không cúng dường chi cả.
Bấy giờ, ấp này có hai Ưu-bà-tắc, một người tên là Phú-xà, một người tên là Ưu-lâu-già, tin ưa Phật pháp, kiến đế, đắc quả, thường ưa bố thí cúng dường Sa-môn. Họ nghe Xá-lợi-phất, Mục-liên từ Ca-di đến, cả hai cùng ra nghinh đón, đầu mặt đảnh lễ sát chân. (Hai ngài)* vì họ nói diệu pháp, chỉ vẽ điều lợi ích, khiến vui vẻ.
Nghe pháp rồi, thưa với ngài Xá-lợi-phất: “Trong ấp này có hai Tỳ-kheo thường làm các việc phi oai nghi (nói đầy đủ như trên). Vừa rồi có năm trăm vị Tỳ-kheo oai nghi trang nghiêm đĩnh đạc, vào trong thôn khất thực, đành phải ôm bát không ra về. Cúi xin Đại đức đem việc này bạch với đức Phật.”
Lúc này, hai ngài lại vì hai Ưu-bà-tắc nói lại pháp vi diệu, chỉ dạy điều lợi ích, khiến họ vui vẻ rồi trở về thành Xá-vệ, đem vấn đề trên