Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 209: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG V: PHÁP ĐỌA. LXII. Thuốc Bốn Tháng: B. Giới Tướng (Trang 476 - 478)

Họ không biết làm sao, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận sự mời (cúng dường)* từ thí chủ mang đến. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận sự mời tùy ý bốn tháng, nếu nhận quá, trừ thỉnh lại, tự đem đến, Ba-dật-đề.”
Khi ấy, Thích-ma-nam nghĩ như vầy: “Nhóm sáu Tỳ-kheo vì thuốc nên đã mạ nhục ta trước mọi người. Nay ta cần tập trung nhiều thứ thuốc.” Khi đã gom các loại thuốc về rồi, ông lại nghĩ như vầy: “Như số thuốc này ta dùng trọn đời cũng không hết, nay ta nên thỉnh các Tỳ-kheo để cúng thuốc trọn đời.” Vua liền đến các Tỳ-kheo thỉnh (cúng thuốc)* lâu dài.
Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận sự thỉnh (cúng)* lâu dài.”
Không biết phải làm thế nào, (Ma-ha-nam)* đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận sự thỉnh lâu dài. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nhận sự thỉnh tùy ý bốn tháng, nếu nhận quá, trừ thỉnh lại, tự đem đến, thỉnh lâu dài,330 Ba-dật-đề.”
 

330 Trừ thỉnh lại, tự đem đến, thỉnh lâu dài, Hán: Cánh thỉnh, tự tống thỉnh, trường thỉnh 除更請自送請長請. Căn bản, bốn ngoại trừ: biệt thỉnh, cánh thỉnh, ân cần thỉnh, thường thỉnh. Thập tụng, trừ ba: thường thỉnh, sác sác thỉnh, biệt thỉnh. Tăng-kỳ, trừ hai: cánh thỉnh và trường thỉnh. Pāli, trừ hai: yêu cầu thêm nữa (punapavāraṇa) và yêu cầu thường xuyên (niccapavāraṇa).
 
Nếu người cúng thuốc cho Tăng thì Tỳ-kheo giúp việc cho Chúng nên hỏi:
“Thuốc này nên để trong tụ lạc (thôn xóm) hay để trong Tăng phường?”
Nếu nói để trong tụ lạc thì khi cần nên bảo:
“Tôi cần thứ thuốc như vậy, vì tôi mà chuẩn bị cho đừng để thiếu thốn.”
Nếu nói để trong Tăng phường thì nên để phòng giữa cho dễ lấy được. Tăng nên tác pháp bạch nhị yết-ma, sai một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay dùng phòng... để thuốc cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay dùng phòng... để thuốc cho Tăng. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý dùng phòng... để đựng thuốc cho Tăng rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Các Tỳ-kheo không biết ai nên giữ thuốc cho Tăng, [62b01] đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Tăng nên bạch nhị yết-ma sai một Tỳ-kheo giữ thuốc. Một Tỳ-kheo xướng: 
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng sai Tỳ-kheo tên là... vì Tăng làm người giữ thuốc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay Tăng sai Tỳ-kheo tên... vì Tăng làm người giữ thuốc. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã sai Tỳ-kheo tên... làm người giữ thuốc rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Lúc ấy, các Tỳ-kheo sai Tỳ-kheo vô trí, không kham việc giữ thuốc, nên đem việc này bạch lên Phật.
Đức Phật dạy:
“Không nên sai Tỳ-kheo vô trí. Nếu (vị nào)* thành tựu năm pháp thì mới sai làm người giữ thuốc cho Tăng. Những gì là năm? Không làm theo ái, giận, si, sợ, biết rõ thuốc hay chẳng phải thuốc. Tỳ-kheo giữ thuốc cho Tăng kia nên dùng vật dụng mới để đựng Ha-lê-lặc,331 A-ma-lặc,332 Tỳ-hê-lặc,333 Tất-bạt-la,334 gừng khô, đường mía, mật mía. Nếu đồ đựng không rỉ chảy nên đựng bơ trong, dầu, mật, nên dùng da bịt miệng, để tên thuốc vào. Nếu Tỳ-kheo nào bệnh cần thứ gì nên hoan hỷ đưa. Nếu người bệnh tự biết nên dùng thuốc gì thì tự lấy dùng. Nếu không biết thì nên hỏi thầy thuốc. Không có thầy thuốc thì nên hỏi Hòa thượng, A-xà-lê rằng: ‘Con bệnh như vậy, như vậy, nên uống thuốc gì?’ Nếu Hòa thượng, A-xà-lê không biết thì nên lấy thuốc uống thử ba lần, không bớt, thì lấy thứ thuốc khác uống. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.”
 

331 Ha-lê-lặc 呵梨勒: Skt=Pāli. harīṭaka; Thiện kiến luật 17, T24n1462, tr. 795a20: Ha-lê-lặc, to như trái táo lớn, có vị chua đắng, dùng làm thuốc tiện lợi. Tứ phần (chú thích bản Việt): một loại trái chua, tên khoa học Myrobalan vàng, dùng để nhuộm màu vàng hay để xổ.
332 A-ma-lặc 阿摩勒: Skt. āmala, Pāli. āmalaka, quả xoài. Thiện kiến luật 17, Yêm-ma-lặc (A-ma-lặc) là trái Dư cam tử 余甘子, ở đất Quảng Châu có trái này, hình dáng như trái Nhuy tử lớn (một thứ cây nhỏ có quả ăn được, hột dùng làm thuốc), ăn trừ bệnh phong.
333 Tỳ-hê-lặc 鞞醯勒: Skt=Pāli. vibhītaka, Thiện kiến luật 17, Tỳ-hê-lặc, hình dáng như trái táo, có vị ngọt dùng làm thuốc, có thể trị bệnh ho. Tứ phần (chú thích bản Việt): quả xuyên luyện 川練, dùng làm thuốc.
334 Tất-bạt-la 畢跋羅: tức trái củ tương (trầu cay).
 
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »