Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 33: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG II: TĂNG TÀN. VI. Lập Thất Nhỏ: A. Duyên Khởi (Trang 126 - 131)

VI. LẬP THẤT NHỎ43
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở thành Xá-vệ.44 Khi ấy, các Tỳ-kheo tại ấp A-trà-bễ,45 tự xin (vật liệu)* để làm phòng xá, đến các cư sĩ xin xe cộ, trị giá bằng xe cộ, xin nhân công, trị giá bằng nhân công, gỗ cây tre trúc thứ gì cũng đòi xin. Cư sĩ nhàm chán, nên thấy (Tỳ-kheo)* đều trốn lánh. Các Tỳ-kheo xin không được nữa, bèn tự mình chặt đốn cây cỏ, đào đất, lấy đất. Có một Đại đức Tỳ-kheo tự mình chặt cây Thần (đang ở)*, trong khi con nhỏ vị Thần cây đang vui chơi nơi cây này, bị chặt đứt một ngón tay. Vị Thần cây đau khổ liền sanh ác ý, muốn đến đánh Tỳ-kheo, song lại nghĩ như vầy: “Vị này có oai đức lớn, nếu ta đánh ông ấy, nhân đây mà chết thì sẽ khiến ta lúc nào cũng phải chịu mọi khổ não”. Lại nghĩ như vầy: “Hiện nay đức Thế Tôn đang ở thành này, ta nên đến trình bày việc này, đức Phật dạy sao thì ta phụng hành thế ấy”.
(Vị Thần)* liền đến Kỳ-hoàn, trình bày đầy đủ lên Phật. Bấy giờ, đức Thế Tôn tán thán vị Thần cây:
“Hay thay! Hay thay! Ý nghĩ của ông rất hay. Hiện Tỳ-kheo này thật có oai đức, nếu đánh vị ấy, ắt sẽ chịu báo khổ.”
 

43 Tăng-kỳ 6, tr. 276b1; Tứ phần 3, tr. 584a16; Thập tụng 3, tr. 20b7; Căn bản 12, tr. 688a19; Pāli, Vin. iii. 144, kuṭikāsikkhapadaṃ.
44 Tăng-kỳ: Phật tại tinh xá Khoáng Dã 曠野精舍; Tứ phần: Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ. Thập tụng: Phật tại A-la-tì quốc 阿羅毘國; Căn bản: Vườn Cấp Cô Độc, rừng Thệ Đa, thành Thất-la-phạt 室羅伐城逝多林 給孤獨園.
45 A-trà-bễ 阿荼髀: Pāli. Āḷavī, một thị trấn cách Sāvatthi ba mươi do-tuần và cách Ba-la-nại mười hai do-tuần. Tăng-kỳ 6: Khoáng dã quốc 曠野國; Tứ phần 3: Kỳ-xà-quật sơn. Thập tụng 3: A-la-tì Tỳ-kheo 阿羅毘比丘. Căn bản 12: Vườn Cấp Cô Độc. Pāli: āḷavakā bhikkhū, các Tỳ-kheo người Āḷavī, một thị trấn nằm giữa Sāvatthī (Xá-vệ) và Rājagaha (Vương Xá).
 
Lại bảo Thọ thần:
“Tại chỗ đó có cây lớn, chưa thuộc về ai, ông có thể nương ở đó.”
Thọ thần vâng lời liền đến đó.
Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành đến ấp A-trà-bệ. Trưởng lão Đại Ca-diếp46 sáng sớm đắp y bưng bát vào thành khất thực. Các cư sĩ thấy ngài đều chạy trốn. Trưởng lão lấy làm lạ, hỏi người đi đường, họ nói: “Các Tỳ-kheo ở đây khất cầu (vật liệu)* làm phòng xá, không biết chán, người trong ấp lo khổ, vì vậy thấy ngài họ đều chạy trốn”.
Sau khi tôn giả Ca-diếp ăn xong, trở về chỗ đức Phật, trình bày sự việc lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
[13b01] “Các ông có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ông nên tu tập thiểu dục tri túc, không nên đa sự khất cầu không biết chán.”
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Vào đời quá khứ bên cạnh sông Hằng, có một Tiên nhân47 ở hang đá. Lúc ấy, hằng ngày Long vương từ nước xuất hiện, nhiễu quanh vị Tiên nhân bảy vòng, đưa đầu lên xuống để nói lên sự cung kính. Sau đó, Tiên nhân du hành trong nhân gian, đệ tử trông hang. Như trước, hằng ngày con rồng cũng đều đến cung kính, làm người đệ tử sợ hãi nên gầy ốm đi nhiều.
 

46 Tăng-kỳ 6, tr. 276c09: Tôn giả Xá-lợi-phất. Tứ phần 3, tr. 584b07; Thập tụng 3, tr. 20b12; Căn bản 12, tr. 688a24: Trưởng lão Đại Ca-diếp.
47 Pāli: dve bhātaro isayo, hai anh em Tiên nhân.
 
Lúc ấy, Ta đang hành Bồ-tát đạo, du hóa bên bờ sông Hằng, chứng kiến sự việc như vậy, liền hỏi nguyên nhân, được trả lời đầy đủ như vậy. Ta lại hỏi:
“Nay ngươi muốn không thấy lại con rồng ấy chăng?”
Trả lời:
“Đúng vậy.”
Lại hỏi:
“Ngươi thấy dưới cổ con rồng có những vật gì nào?”
Đáp:
“Có ngọc ma-ni.”48
Ta lại bảo:
“Nếu khi nào rồng đến, ngươi liền chắp tay hướng đến nó, nói như vầy: Nay ta cần ngọc ma-ni dưới cổ ngươi, xin đem cho ta.”
Lúc ấy, đệ tử Tiên nhân nghe Ta nói rồi, nên khi rồng từ nước xuất hiện, liền đòi nó. Con rồng nghe xin ngọc, không tới, không lui, đứng im lặng. Lúc ấy, đệ tử Tiên nhân lại vì Long vương nói bài kệ này:
Long vương, nay ta cần
Ngọc châu dưới cổ ngươi.
Ta rất yêu thích nó
Tại sao ngươi không nói?
Con rồng liền dùng kệ trả lời:
Tất cả điều ta cần
Đều được nhờ ngọc này.
Nay ông xin ngọc đó
 

48 Tăng-kỳ 6, tr. 277b19; Tứ phần 3, tr. 584c13: Anh lạc 瓔珞; Pāli: maṇi.
 
Vĩnh viễn không đến nữa
Như tiếng lửa bốc cháy
Khiến lòng người hoảng sợ.
Nay ta nghe ông nói
Hoảng sợ còn hơn nhiều.
Bấy giờ, đức Thế Tôn dẫn tích xưa, nói kệ:
Người xin không ai ưa
Nhiều lần bị oán ghét.
Long vương nghe tiếng xin
Một đi không trở lại.

Lại bảo Tỳ-kheo:
Long vương thọ nghiệp báo tự nhiên, còn không thích nghe tiếng cầu xin. Nay các cư sĩ làm ăn vất vả, khốn khổ mới có được, tại sao các ngươi lúc nào cũng xin?
Lại bảo Tỳ-kheo:
Xưa kia, một thời Ta ở tại thành Xá-vệ, có Tỳ-kheo an cư xong đi đến chỗ Ta, Ta hỏi:
“An cư ở đâu? An cư có an ổn, khất thực có dễ được, đi đường có mệt không?”
Tỳ-kheo kia trả lời:
[13c01] “Con an cư tại khu rừng nơi sườn núi tuyết, an cư an ổn, khất thực dễ được, đi đường không mệt, chỉ có hoạn nạn từ các con chim, ban đêm chúng kêu làm loạn tọa thiền tư duy không chuyên nhất được!”
Ta hỏi Tỳ-kheo:
“Nay các ông còn thích khu rừng đó nữa không?”
Thưa:

“Rất thích, bạch Thế Tôn.”
Ta bảo:
“Ông về lại nơi đó, khi chiều chim về, chắp tay hướng đến nó nói: ‘Nay ta cần lông cánh các ngươi, các ngươi cho ta’. Giữa đêm, cuối đêm cũng lại nói như vậy.”
Tỳ-kheo vâng theo lời dạy xin chúng. Trong đêm đó, những con chim bàn với nhau: “Nay Tỳ-kheo này xin chúng ta điều đó, chúng ta có nên cho hay không?” Chúng đều nói: “Không thể được”, liền bay đi luôn không trở lại.
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Loài chim còn không thích nghe tiếng cầu xin, huống là người ư!”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
Vào thời quá khứ, có quốc vương Ca-di, ham thích bố thí, cung cấp người nghèo nàn. Khi ấy có vị Phạm-chí được nhà vua rất mến trọng, chưa bao giờ cầu xin nhà vua thứ gì. Bấy giờ vua kia nói bài kệ:
Mọi người từ xa đến
Đâu đâu cũng xin ta.
Mà nay ngươi ở đây
Không xin, có ý gì?
Phạm-chí lại dùng kệ trả lời:
Người xin không ai ưa
Không cho tạo oán ghét.
Do vậy nên không xin
Sợ mất tình thân ái.
Nhà vua lại nói kệ:
Người trí không ghét xin
Tìm tiếng tư, văn đến.
Huống ông chỗ thân ái
Đâu nên có lòng tiếc.
Giữ nghèo, thẹn cầu xin
Chỗ đáng hưởng không nhận,
Mất phước người tâm hư,
Mà tự khốn khổ mình.
An bần, xin không thẹn,
Chỗ đáng hưởng nên nhận,
Thành tựu thiện cho người,
Tự mình mãi an lạc.
Xin không tổn đức hạnh,
Cũng không lỗi thân, miệng,
Bớt có để giúp không,
Tại sao lại không xin?
Phạm-chí lại dùng kệ trả lời:
Người hiền không lời xin,
Cầu xin chẳng phải hiền
Im lặng không cầu xin,
Đó gọi là đại nhân.

[14a01] Nhà vua nghe kệ của người hiền, tâm rất hoan hỷ, liền đem một con trâu chúa và 1.000 con trâu khác biếu cho.
(Đức Phật)* bảo Tỳ-kheo: “Vua cùng Phạm-chí tuy rất yêu thích nhau, nhưng còn khó có sự cầu xin, huống là các cư sĩ đối với các người đâu có yêu thích mà cầu xin nhiều như thế!”
Lại bảo Tỳ-kheo:
“Xưa kia có con nhà tộc tánh, tên là La-tra-ba-la,49 cha mẹ rất yêu quý; nhưng từ khi xuất gia, không hề có yêu cầu cha mẹ thứ gì. Lúc ấy, cha mẹ cũng dùng bài kệ hỏi:

 


49 La-tra-ba-la 羅吒波羅 (Pāli: Raṭṭhapāla). Tứ phần 3, tr. 585a26: Lại-tra-bà-la 賴吒婆羅, tức Lại-tra-hoà-la; trong Trung A-hàm 31 (T1n26, tr. 623a), con nhà phú hộ ở Xá-vệ, điển hình cho tín tâm bất động của thanh niên con nhà giàu có, quyết tâm xuất gia. Cf. Pāli, Raṭṭhapāla-sutta, M.ii.54ff.

 

/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »