Thưa:
“Dạ vâng.”
Lại hỏi:
“Bát trám một đường cho đến năm đường, là bát phải không?”
Thưa: “Dạ vâng.”
(Đức Phật)* bảo các Tỳ-kheo:
“Không trám, trám một chỗ cho đến bốn chỗ là bát; trám năm chỗ không phải là bát. Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, bát chưa đủ năm chỗ trám,140 lại xin bát mới, vì muốn đẹp, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Bát ấy nên xả giữa Tăng, Tăng nên lấy cái bát chót141 (bát không vị nào lấy) đưa cho và nói: ‘Thầy nên thọ trì cái bát này cho đến vỡ’. Pháp xả bát là như vậy.”
C. THÍCH TỪ
Bát có ba loại: Bát sắt, bát Tô-ma,142 bát sành.
Lại có ba cỡ: Lớn, nhỏ và vừa.
Lớn: Là đựng được ba bát cơm của người khác, trừ canh và rau.
140 Hán: Vị mãn ngũ xuyết 未滿五綴. Tứ phần: Chứa bát trám dưới năm chỗ không chảy rỉ (giảm ngũ xuyết bất lậu 減五綴不漏). Pāli: ūnapañcabandhanena, dưới năm chỗ vá.
141 Tứ phần: Tối hạ bát 最下鉢. Thập tụng, Căn bản: Chúng trung tối hạ bát 眾中最下鉢. Pāli: yo ca tassā bhikkhuparisāya pattapariyanto, bình bát cuối cùng của chúng Tỳ-kheo đó.
142 Bát Tô-ma 蘇摩鉢: là bát ở nước Tô-ma. Nước Tô-ma 蘇摩國 (Skt. Soma, dịch là nguyệt 月). Một trong 16 đại quốc thời Phật.