“Ông là người ngu si, khi nào cũng đóng kịch. Nay Ta cho phép thêm hai đầu một gang tay nữa.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm Ni-sư-đàn phải làm đúng lượng, dài hai gang tay, rộng một gang tay rưỡi của Tu-già-đà,420 rồi thêm vuông vức một gang. Nếu làm quá, Ba-dật-đề”.
C. THÍCH TỪ
Thêm vuông vức một gang tay: Rọc lấy ba phần nối vào đầu chiều dài, còn một phần điểm bốn góc, không điểm thì thôi. Trừ Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni; ngoài ra như trong giới làm giường đã nói.
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.422 Bấy giờ, Tỳ-kheo Tỳ-la-trà423 thân thể bị sanh ghẻ, máu mủ chảy đầy, khi cởi y phục đã mặc vết thương
420 Hán: Tu-già-đà trách thủ 修伽陀磔手. Tứ phần: Phật trách thủ 佛搩手. Căn bản: Phật trương thủ 佛張手; giải thích: 1 gang tay Phật bằng ba gang tay người trung bình. Pāli: sugatavidatthiyā, gang tay (tiêu chuẩn) được chấp nhận (theo bản Anh); (xem cht. 50, Ch. ii, Tăng tàn 6. cht. 412, Ba-dật-đề 86).
421 Tăng-kỳ 20, tr. 393a22: Ba-dật-đề 86; Tứ phần 19, tr. 694c05, Thập tụng 18, tr.129c03, Căn bản 49, tr. 896a14: Ba-dật-đề 88. Pāli, Pāc. 90, Kaṇḍupaṭicchādi.
422 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Duy-da-ly quốc維耶離國; Căn bản: Vườn Cấp Cô Độc 給孤獨園.
423 Tỳ-la-trà 毘羅荼: Các bộ khác chỉ nói các Tỳ-kheo bị mụt ghẻ lở, mủ máu ra nhớp cả y áo ngọa cụ.... nhân đây đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo dùng Phú sang y chứ không nói tên Tỳ-kheo như Ngũ phần.