Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 144: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG V: PHÁP ĐỌA. XXII. Giáo Giới Ni Sau Mặt Trời Lặn: A. Duyên Khởi (Trang 361 - 363)

XXII. GIÁO GIỚI NI SAU MẶT TRỜI LẶN122
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.123 Bấy giờ, theo thứ tự giáo giới Tỳ-kheo-ni, các Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo-ni:
“Sáng mai tới phiên Tỳ-kheo Ban-đà124 giáo giới, các cô nên đến đó thọ lãnh giáo pháp.”
Nói như vậy rồi, họ trở về trú xứ nói với Ban-đà:
“Sáng mai thầy giáo giới Tỳ-kheo-ni.”
Trưởng lão Ban-đà, sáng sớm đến giờ, khoác y bưng bát vào thành khất thực. Sau khi ăn, trở về quét dọn trong ngoài, lấy nước sạch, để sẵn khăn lau tay lau chân, dọn chỗ ngồi nơi đất trống, tự lấy giường dây, ngồi thiền ở một bên. Khi các Tỳ-kheo-ni đến chỗ Ban-đà, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đến chỗ ngồi để ngồi. Lúc này, Ban-đà hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô đã từng nghe Tám kính pháp chưa?”
Thưa:
“Đã nghe.”
Lại nói:
“Tỷ muội nên nghe lại:
1. Chúng Tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng nên đến chúng Tỳ-kheo thỉnh vị giáo giới.
 

122 Các bộ giống nhau. Pāc. 22, atthaṅgata.
123 Tăng-kỳ 15, tr. 346a26, Tứ phần 12, tr. 649c12, Thập tụng 11, tr. 80a29: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) cũng như Ngũ phần. Căn bản 32, tr. 803c25: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
124 Tỳ-kheo Bàn-đà 般陀比丘. Pāli: Cūḷapanthaka, Châu-lợi-bàn-đặc.
 
2. Chúng Tỳ-kheo-ni khi an cư cần phải nương nơi chúng Tỳ-kheo Tăng.
3. Tỳ-kheo-ni khi Tự tứ [46a01] nên bạch nhị yết-ma, sai ba Tỳ-kheo-ni đến chúng Tỳ-kheo thỉnh tội thấy, nghe, nghi.
4. Thức-xoa-ma-na, hai năm học sáu pháp rồi, nên đối trước hai bộ chúng cầu thọ giới Cụ túc.
5. Tỳ-kheo-ni không được mắng Tỳ-kheo, không được nói với bạch y về tội phạm giới, phạm oai nghi, tà kiến, tà mạng của Tỳ-kheo.
6. Tỳ-kheo-ni không được cử tội Tỳ-kheo, mà Tỳ-kheo được quở trách Tỳ-kheo-ni.
7. Tỳ-kheo-ni phạm thô tội nên đến giữa hai bộ Tăng cầu nửa tháng hành Ma-na-đỏa,125 hành Ma-na-đỏa rồi, hành A-phù-ha-na,126 nên đến trước chúng hai mươi vị Tỳ-kheo và hai mươi vị Tỳ-kheo-ni xuất tội.
8. Tỳ-kheo-ni dù thọ giới Cụ túc trước một trăm năm, cũng phải lễ bái Tỳ-kheo mới thọ đại giới.
Nói Tám kính pháp này rồi, liền nói bài kệ:
Muốn được tâm tốt đừng phóng dật,
Cần nên học pháp lành Thánh nhân.
Chỉ có người trí tuệ, nhất tâm,
Mới có thể không ưu sầu nữa.”
Nói kệ này xong, nhắm mắt ngồi thẳng, khi ấy các Tỳ-kheo-ni nói riêng với nhau: “Tỳ-kheo này chỉ biết một bài kệ này làm sao có thể giáo giới chúng ta!”
 

125 Ma-na-đỏa 摩那埵. Pāli: Mānatta. Xem cht. 5, 9, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 1.
126 Tứ phần: Xuất tội 出罪, Tăng-kỳ: A-phù-ha-na 阿浮呵那. Pāli: abbhāna, sự phục hồi.
 
Ban-đà nghe rồi, nghĩ như vầy: “Các Tỳ-kheo-ni này khinh dễ ta.” Lúc ấy bay vụt lên hư không, một thân hiện thành vô số thân, hiệp lại thành một; xuyên qua vách đá, vượt trên nước như đất; vào đất như vào nước, hoặc hiện nửa thân, hoặc hiện toàn thân; hoặc thân trên tuôn khói, thân dưới tuôn lửa; hoặc thân trên tuôn lửa, thân dưới tuôn khói; hoặc thân trên tuôn nước, thân dưới tuôn lửa; hoặc thân trên tuôn lửa, thân dưới tuôn nước; hoặc ngồi nằm giữa hư không như chim bay lượn; hoặc tay rờ mặt trời, mặt trăng; hoặc thân đứng thẳng đến trời Phạm Tự Tại. Hiện thần biến xong, trở về ngồi chỗ cũ, nói bài kệ như trước.
Các Tỳ-kheo-ni thấy các thứ thần biến này tâm rất hoan hỷ, bạch:
“Đại đức! Xin ngài dùng lại thần túc để giáo hóa.”
Lúc này, Ban-đà hiện Đông chìm Tây, hiện Tây chìm Đông. Các phương khác cũng vậy. Hiện tất cả những thần biến như vậy , sau đó trở về ngồi chỗ cũ, nói kệ như trên, … cho đến mặt trời lặn, sau đó mới cho đi. Bấy giờ trời xẩm tối, các Tỳ-kheo-ni đến cửa thành, cửa thành đã đóng, gõ cửa xin vào. Người giữ cửa hỏi:
“Ngươi là ai?”
Trả lời:
“Là Tỳ-kheo-ni.”
Người giữ cửa hỏi:
“Từ đâu về tối thế?”
Trả lời:
“Tôn giả Ban-đà giáo giới chúng tôi, cho nên về trễ.”
[46b01] Người giữ cửa bảo:
“Có thể trở về chỗ cũ, chứ dù vua đến, tôi cũng không dám mở.”
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »