Không phạm: Với tâm từ mẫn, không có tâm sát.
A. DUYÊN KHỞI
1. Nhân duyên kết giới lần thứ nhất
Đức Phật ở tại Tỳ-xá-ly,146 gặp lúc mất mùa, khất thực khó được, các Tỳ-kheo vào thành khất thực, không nhận được thứ gì.147 Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: “Các ngươi tùy theo chỗ quen biết nên đến đó an cư, chớ ở nơi này chịu khổ vì đói khát.”
Tỳ-kheo vâng lời, có vị đến nước Ma-kiệt, có người đến nơi tụ lạc bên sông Bà-cầu-mạt.148 Khi các Tỳ-kheo đến bên sông, họp cùng bàn bạc, “Nay khất thực khó được, trong tụ lạc này có những người tin ưa, chúng ta nên khen ngợi lẫn nhau, nói: ‘Vị kia đắc sơ thiền, tôi cũng được. Vị kia đắc nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, tứ vô lượng xứ, tứ vô sắc định, tôi cũng như vậy. Vị kia đắc tứ niệm xứ, cho đến tám phần chánh đạo, ba giải thoát môn, tôi cũng như vậy. Vị kia đắc tám giải thoát, chín thứ đệ định, mười Nhất thiết nhập (mười Biến xứ định), mười Trực đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp…), tôi cũng như vậy. Vị kia đắc Kiên tín, Kiên pháp, tứ Sa-môn quả, Tam minh, Lục thần thông, tôi cũng như vậy’. Các cư sĩ nghe qua ắt sẽ sanh tâm hy hữu, nói như vầy: ‘Chúng ta149 được
145 Tăng-kỳ 4, tr. 257c16; Tứ phần 2, tr. 577b13; Thập tụng 2, tr. 11a6; Căn bản 9, tr. 668c22; Vin. iii. tr. 87.
146 Tăng-kỳ 4 (tr.257c16): Phật tại Xá-vệ thành. Tứ phần 2 (tr. 577b13): Tỳ-xá-ly. Thập tụng 2 (tr.11a6): Phật an cư mùa hạ tại Duy-da-li. Pāli, Vin. iii. 87: Trú tại Vesāli, trong rừng Mahāvana, trong một ngôi nhà sàn (Trùng các giảng đường).
147 Pāli, nt: nạn đói kém tại Vajjī.
148 Tứ phần 2, Bà-cừu hà 婆裘河. Thập tụng 2, Bạt-cầu-ma 跋求摩河. Căn bản: Sông Thắng Tuệ 勝慧河, Pāli, sông Vaggumudā, thuộc nước Vajji, gần chỗ Phật nhập Niết-bàn.
Ba, là có Tỳ-kheo ác đối những pháp Phật đã nói, tự xưng là ta đã tạo.
Bốn, là có Tỳ-kheo ác không tu Phạm hạnh, tự nói ta tu Phạm hạnh.
Năm, là có Tỳ-kheo ác vì lợi dưỡng, không (đắc)* pháp hơn người, tự xưng ta đắc. Hạng giặc thứ 5 này gọi là hạng tối đại tặc của cả thế gian, Thiên, Nhân, Ma-Phạm (Thiên ma và Phạm thiên), Sa-môn, Bà-la-môn.
Tại sao các người vì chút lợi dưỡng mà lại làm tối đại tặc?” Quở trách như vậy rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, không biết, không thấy pháp hơn người, thánh lợi đầy đủ, tự xưng là tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy. Sau đó, hoặc bị người cật vấn, hoặc không bị người cật vấn, vì muốn khỏi tội cầu thanh tịnh nên tự nói như vầy:
‘Tôi không biết nói biết, không thấy nói thấy, nói lời hư cuống vọng ngữ’. Tỳ-kheo ấy phạm Ba-la-di, không được sống chung.”
2. Nhân duyên kết giới lần thứ hai
[9c01] Đức Phật ở tại nước Xá-vệ,153 có số đông Tỳ-kheo ít nghe, không học, không hỏi, chưa (đắc)* pháp hơn người, tự bảo tôi biết, tôi thấy, tôi chứng. Sau đó, vị kia nghe các Tỳ-kheo giảng luận về trạng thái đắc đạo, chưa đắc đạo, mới hiểu ra là không phải đạo, sanh tâm hổ thẹn, nghĩ như vầy: “Trước đây, chúng ta chưa đắc (đạo)* mà nói là đắc (đạo)*, sẽ không phạm tội Ba-la-di?”
153 Tăng-kỳ 4, (259c06): Phật tại Xá-vệ thành. Thập Tụng 2 (tr. 12b13): Phật tại nước Xá-vệ. Căn bản 10 (tr. 675a11) Phật tại thành Bệ-xá-li (cũng là Đại vọng ngữ kết lần 2, nhưng những sự kiện khác với Ngũ phần).