Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 86: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG IV: XẢ ĐỌA. XVI. A-lan-nhã Gặp Nạn Lìa Y: C. Thích Từ. XVII. Y Tắm Mưa: A. Duyên Khởi (Trang 262 - 268)

nhà bạch y trong nội giới, nếu có nhân duyên ra ngoài giới, lìa y này ngủ cho đến sáu đêm, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
An cư ba tháng: Là tiền an cư.116
Chưa hết tháng tám: Là hậu an cư.117
[32b01] Mỗi một loại y: Hoặc Tăng-già-lê, hoặc Ưu-đa-la-tăng, tùy theo đó mà gởi một y. Không được gởi y An-đà-hội vì y mặc nơi thân vậy. Lễ bái, nhập Tăng, khất thực, không được chỉ mặc một y. Không được gởi hai y.
Có nhân duyên ra ngoài giới sáu đêm, hoặc có việc của tháp, việc của Hòa thượng, A-xà-lê và việc riêng mình, hay việc của người, để lại một loại y nơi nhà bạch y, ra ngoài giới tối đa là sáu đêm. Nếu một đêm, hai đêm cho đến năm đêm, việc xong mà không trở về, Đột-kiết-la. Sa-di, Đột-kiết-la.
XVII. Y TẮM MƯA118
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.119 Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu120 thỉnh Phật và Tăng ngày mai thọ trai. Hôm ấy lại gặp trời mưa như
 

116 Thời gian an cư phải đủ ba tháng dù là tiền an cư, là hậu an cư hay là trung an cư. Theo Đại Đường Tây vức ký 2 và 8 thì thời gian an cư bắt đầu vào ngày 16/5 đến ngày 15/8. Có hai thuyết an cư: Một, là tiền an cư, hậu an cư. Tiền an cư thì bắt đầu ngày 16/5; hậu an cư thì bắt đầu ngày 16/6. Hai, là tiền an cư, trung an cư, hậu an cư. Tiền an cư bắt đầu ngày 16/4; Trung an cư bắt đầu ngày 17/4 đến ngày 15/5 (ngày nào bắt đầu cũng được); hậu an cư bắt đầu ngày 16/5.
117 Xem cht. 117 trên.
118 Tăng-kỳ 11, tr. 319c1: Ni-tát-kỳ 25. Tứ phần 10, tr. 628c24: Ni-tát-kỳ 27. Thập tụng 8, tr. 58c28, Căn bản 24, tr. 757a3: Ni-tát-kỳ 28. Pāli, Nissaggiya 24, vass ikasāṭikā.
119 Tăng-kỳ 11, tr. 319c1; Tứ phần 10, tr. 628c24; Thập tụng 8, tr. 58c28: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 24, tr. 757a3: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
120 Tăng-kỳ 11, tr. 319c2; Tứ phần 10, tr. 628c24: Cũng Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu như Ngũ phần. Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu: xem cht. 5, Ch. iii, Bất định 1.
 
trút nước,121 chỉ trong chớp nhoáng như lực sĩ co duỗi cánh tay nước mưa kia liền đầy bình bát để giữa đất. Nhưng nước này bị đất ngấm hết, như giọt dầu rơi xuống đống cát nóng, nếu không vậy thì chắc đã trở thành biển cả. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Như trận mưa hôm nay trong Kỳ-hoàn, khắp Diêm-phù-đề122 cũng lại như vậy. Các ngươi có thể ra ngoài đó tắm gội. Đây là trận mưa đều khắp cuối mùa.”
Các Tỳ-kheo liền ra ngoài mưa, trần truồng mà tắm.
Khi ấy, Tỳ-xá-khư sai tớ gái đến bạch Phật, thức ăn đã sửa soạn xong. Người tớ gái đến Kỳ-hoàn, thấy các Tỳ-kheo đều đang trần truồng tắm mưa, nghĩ như vầy: “Đây là ngoại đạo chứ chẳng phải Tỳ-kheo”. Trở về báo cáo như vậy. Tỳ-xá-khư nghĩ như vầy: “Chắc là đứa tớ gái khờ khạo không biết các Tỳ-kheo đang tắm gội nơi đất trống mà gọi đó là ngoại đạo”. Liền sai lại:
“Ngươi đến cửa Kỳ-hoàn thưa lớn như vầy: ‘Thức ăn đã sửa soạn xong, mời quý ngài đã đến giờ’.”
Cô tớ gái lại đến trước cửa Kỳ-hoàn, muốn thưa như lời dạy, nhưng lúc đó các Tỳ-kheo đã tắm xong, đều vào phòng không còn một vị
 

121 Hán: Thiên khủng bố vũ 天恐怖雨, trời mưa kinh khủng. Tứ phần: Như tượng niệu há 如象尿下, như voi đái.
122 Diêm-phù-đề 閻浮提: (Skt. Jambu-dvīpa, Pāli. Jambu-dīpa) Diêm-phù (Jambu) là tên cây đào đỏ (lá dày lớn, phấn hoa màu hồng, bên ngoài quả có lông nhung, quả có thể ăn được. Tên khoa học là Eugeniajambolana); đề (dvīpa) là châu, dịch theo Phạn-Hán “Diêm-phù châu”, là nước sinh trưởng nhiều cây Diêm-phù. Trước đây Diêm-phù-đề vốn chỉ riêng cho Ấn Độ, về sau chỉ chung cho thế giới nhân gian.
 
trút nước,121 chỉ trong chớp nhoáng như lực sĩ co duỗi cánh tay nước mưa kia liền đầy bình bát để giữa đất. Nhưng nước này bị đất ngấm hết, như giọt dầu rơi xuống đống cát nóng, nếu không vậy thì chắc đã trở thành biển cả. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Như trận mưa hôm nay trong Kỳ-hoàn, khắp Diêm-phù-đề122 cũng lại như vậy. Các ngươi có thể ra ngoài đó tắm gội. Đây là trận mưa đều khắp cuối mùa.”
Các Tỳ-kheo liền ra ngoài mưa, trần truồng mà tắm.
Khi ấy, Tỳ-xá-khư sai tớ gái đến bạch Phật, thức ăn đã sửa soạn xong. Người tớ gái đến Kỳ-hoàn, thấy các Tỳ-kheo đều đang trần truồng tắm mưa, nghĩ như vầy: “Đây là ngoại đạo chứ chẳng phải Tỳ-kheo”. Trở về báo cáo như vậy. Tỳ-xá-khư nghĩ như vầy: “Chắc là đứa tớ gái khờ khạo không biết các Tỳ-kheo đang tắm gội nơi đất trống mà gọi đó là ngoại đạo”. Liền sai lại:
“Ngươi đến cửa Kỳ-hoàn thưa lớn như vầy: ‘Thức ăn đã sửa soạn xong, mời quý ngài đã đến giờ’.”
Cô tớ gái lại đến trước cửa Kỳ-hoàn, muốn thưa như lời dạy, nhưng lúc đó các Tỳ-kheo đã tắm xong, đều vào phòng không còn một vị nào cả, cô ta lại nghĩ: “Vừa rồi thấy trong sân đầy cả ngoại đạo, bây giờ lại không thấy ai cả”. Cô ta lại trở về báo cáo như trên. Tỳ-xá-khư nghĩ như vầy: “Chắc là các Tỳ-kheo tắm xong vào an nghỉ.” Lại sai đi thưa nữa:
“Ngươi có thể vào trong cửa, ở giữa sân thưa!”
(Người tớ gái)* vâng lời, vào trong cửa ngõ Kỳ-hoàn, ở giữa sân thưa. Đức Phật nghe tiếng thưa, bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-xá-khư thỉnh, đã đến giờ. Tất cả các ông nên khoác y mang bát cùng phó trai.”
Các Tỳ-kheo vâng lời tập hợp hết nơi giảng đường Phổ hội.123 Đứa tớ gái bước đến trước, bạch Phật:
“Thức ăn đã chuẩn bị xong, xin quý ngài chứng tri.”
Đức Phật bảo: “Ngươi có thể về trước, (chư Tăng)* sẽ đến sau.”
Trong lúc đó, như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, đức Thế Tôn cùng các Tỳ-kheo biến mất khỏi giảng đường Phổ hội, rồi xuất hiện trên chỗ ngồi đã sắp sẵn nơi nhà Tỳ-xá-khư, y phục không bị ướt.
[32c01] Tỳ-xá-khư thấy đức Phật và Tăng bỗng nhiên ngồi trên chỗ ngồi mà y phục không ướt, bèn nghĩ như vầy: “Ta được thiện lợi cúng dường bậc Thánh sư và đệ tử như vậy, vì trời đổ mưa lớn mà (đi)* không ướt y phục”. Bà vui mừng hớn hở, tự tay dâng các thức ăn ngon bổ. Ăn xong bà dâng nước, rồi chắp tay đứng qua một bên, bạch Phật:
“Xin đức Thế Tôn cho con nguyện!”
Đức Phật bảo Tỳ-xá-khư:
“Đối với các ước nguyện thế gian Ta đã xa lìa vĩnh viễn.”124
 

121 Hán: Thiên khủng bố vũ 天恐怖雨, trời mưa kinh khủng. Tứ phần: Như tượng niệu há 如象尿下, như voi đái.
122 Diêm-phù-đề 閻浮提: (Skt. Jambu-dvīpa, Pāli. Jambu-dīpa) Diêm-phù (Jambu) là tên cây đào đỏ (lá dày lớn, phấn hoa màu hồng, bên ngoài quả có lông nhung, quả có thể ăn được. Tên khoa học là Eugeniajambolana); đề (dvīpa) là châu, dịch theo Phạn-Hán “Diêm-phù châu”, là nước sinh trưởng nhiều cây Diêm-phù. Trước đây Diêm-phù-đề vốn chỉ riêng cho Ấn Độ, về sau chỉ chung cho thế giới nhân gian.
123 Hán: Phổ hội giảng đường 普會講堂. 
124 Tứ phần: Như lai bất dữ nhân quá nguyện 如來不與人過願. Xem Thập tụng 27, (tr. 195c17) “Các Như Lai… đã vượt qua các ước nguyện (Hán: dĩ quá chư nguyện 已過諸願).” Cf. Pāli (Vin. i. 192): atikkantavārā kho… thāgatā, “Các đức Như lai siêu quá các ước nguyện.” Nghĩa là chỉ hứa khả những thỉnh nguyện không phi pháp. Câu Phật thường xuyên trả lời khi có người thỉnh nguyện.
 
Tỳ-xá-khư lại thưa:
“Xin đức Phật cho con được phát nguyện thanh tịnh.”
Đức Phật dạy:
“Lành thay, rất tốt!”
Tỳ-xá-khư bạch Phật:
“Sáng nay con sai đứa tớ gái đến thưa là thức ăn đã sửa soạn xong, nó gặp lúc các Tỳ-kheo đang tắm trần truồng, liền về báo với con là: ‘Trong Kỳ-hoàn đều là ngoại đạo, không có Tỳ-kheo’. Kính bạch đức Thế Tôn! Tại sao các Tỳ-kheo lại tắm trần truồng ở trước Hòa thượng, A-xà-lê? Xin đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo được chứa y tắm mưa. Con nguyện trọn đời cung cấp y tắm mưa cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Thời gian gần đây, con có chút việc đến sông A-di-la,125 thấy các Tỳ-kheo-ni tắm giặt trần truồng ở dưới sông. Khi ấy có người thấy đều chê cười rằng: Người nữ mặc y vẫn còn coi không được, huống chi là người nữ xuất gia mà thân thể trần truồng.’ Xin đức Phật cũng cho phép Tỳ-kheo-ni được chứa y tắm.126 Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp y tắm nước cho các Tỳ-kheo-ni trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
 

125 Tứ phần: Sông A-di-la-bạt-đề 阿夷羅跋提河. Pāli: Aciravatī - nay là sông Rāpti ở Oudh; là một trong ngũ đại hà (Pañcamahānadī), năm con sông lớn chảy từ Himālaya về hướng đông (pācīnaninnā) xuôi ra biển.
126 Hán: Thuỷ dục y 水浴衣.
 
“Đức Phật dạy có ba loại bệnh: Loại một, có thuốc hay không có thuốc cũng chết. Loại hai, có thuốc hay không có thuốc cũng lành. Loại ba, có thuốc thì lành, không có thuốc thì chết. Xin Phật cho phép các Tỳ-kheo được uống các loại thuốc. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thuốc cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Đức Phật dạy có ba loại bệnh: Loại một, được ăn thức ăn tùy theo bệnh, hay không được ăn thức ăn tùy theo bệnh, vẫn chết. Loại hai, được ăn thức ăn tùy theo bệnh, hay không được ăn thức ăn tùy theo bệnh, vẫn sống. Loại ba, được ăn thức ăn tùy theo bệnh thì sống, không được ăn thức ăn tùy theo bệnh thì chết. Xin đức Phật cho phép các Tỳ-kheo được ăn thức ăn tùy theo bệnh. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thức ăn tùy theo bệnh cho các Tỳ-kheo ở tại thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Người nuôi bệnh, nếu đi khất thực thì không chu toàn việc chức năng của mình. Xin Phật cho phép các Tỳ-kheo được nhận thức ăn (để có thời gian)* nuôi bệnh. Con cũng nguyện trọn đời cung cấp thức ăn cho các vị nuôi người bệnh trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Tỳ-kheo khách đi đường mỏi mệt, mới đến không biết chỗ nào khất thực. Xin cho phép các Tỳ-kheo khách nhận thức ăn trong lúc nghỉ mệt và để biết chỗ khất thực. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thức ăn cho quý Tỳ-kheo khách trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Nếu có Tỳ-kheo nào đi xa, vào thôn khất thực, đến khi quay trở lại đường thì không kịp bạn đồng hành, [33a01] hoặc gặp phải bọn giặc Tháng tám, hoặc đi lối tắc lạc đường. Xin đức Phật cho phép các Tỳ-kheo đi xa nhận thức ăn đi xa của con. Con cũng nguyện trọn đời
cúng dường lương thực đi đường xa cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Con nghe đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo ở nước A-na-tần-đầu127 ăn cháo. Xin Ngài cho phép các Tỳ-kheo được nhận cháo của con. Con cũng nguyện trọn đời cúng dường cháo cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ.”
Lại bạch đức Phật rằng:
“Nguyện đức Thế Tôn trọn đời nhận y phục, ẩm thực, thuốc thang của con.”
Đức Phật hỏi Tỳ-xá-khư:
“Ngươi thấy ý nghĩa lợi ích thế nào, mà phát chín lời nguyện128 này?”
(Tỳ-xá-khư)* thưa:
“Trong nước này sẽ có các Tỳ-kheo ở các nơi đến thăm hỏi đức Thế Tôn, hoặc có Tỳ-kheo tên… ở địa phương kia đã qua đời, đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, con sẽ hỏi về họ, Tỳ-kheo kia đã từng đến đây chưa? Nếu vị ấy đã từng đến đây, con nghĩ như vầy: ‘Tỳ-kheo kia chắc đã từng nhận nơi con ít nhất là một món cúng dường.’ Nhờ đó mà hoan hỷ, tăng thêm căn lành.”
Lúc ấy, đức Thế Tôn nói với Tỳ-xá-khư rằng:
“Chỉ cho phép ngươi thực hiện tám nguyện, còn một nguyện không thể được.”
 

127 A-na-tần-đầu 阿那頻頭. Cf. Mahāvagga 6, Vin. i. 220: Andhakavinda, một thị trấn trong vương quốc Magadha.
128 Tứ phần: Thỉnh nguyện tám điều.
 
Khi ấy, Tỳ-xá-khư lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi trước đức Phật. Phật vì bà nói bài kệ tùy hỷ:
Hoan hỷ cúng ẩm thực
Phật và Thánh đệ tử.
Làm phước phá xan tham,
Thọ báo thường an lạc,
Sanh thiên, được sống lâu.
Lại đây lìa bụi nhiễm,
Quả lớn hành pháp này,
Vui mãi nơi Tịnh thiên .
Bấy giờ, đức Thế Tôn lại vì Tỳ-xá-khư nói các pháp vi diệu, dạy bảo lợi ích, khiến hoan hỷ, rồi trở về lại Kỳ-hoàn, tập hợp các Tỳ-kheo, khen ngợi thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép các Tỳ-kheo nhận y tắm mưa, các Tỳ-kheo-ni nhận y tắm, nhận thuốc tùy theo bệnh, nhận thức ăn tùy theo bệnh, người nuôi bệnh được nhận thức ăn, Tỳ-kheo khách được nhận thức ăn, Tỳ-kheo đi xa được nhận thức ăn đi đường, và Tỳ-kheo được ăn cháo.”
Khi ấy các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Đức Phật cho phép ta chứa y tắm mưa”, nên thường xin để chứa cất, không thọ trì, mà không cho người, không tịnh thí, gánh cả gánh nặng y đi. Các Tỳ-kheo thấy, hỏi:
“Thầy không nghe đức Phật cấm chứa y dư hay sao?”
Trả lời:
“Tuy Phật có cấm nhưng lại cho phép chứa y tắm mưa.”
Các Tỳ-kheo lại hỏi:
“Các thầy thường chứa y tắm mưa, mà không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, phải không?”
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »