Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 49: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG II: TĂNG TÀN. XI. Tùy Thuận Phá Tăng: C. Thích Từ. D. Phạm Tướng. XII. Ác Tánh Bất Thọ Nhân Ngữ: A. Duyên Khởi (Trang 180 - 181)

biết mà nói, không nói như pháp, không nói đúng luật. Các người chớ nên vui thích yểm trợ phá hòa hợp Tăng, nên vui vẻ yểm trợ hòa hợp Tăng. Vì Tăng hòa hợp là nên hoan hỷ, không tranh chấp. Một lòng cùng học (một Thầy) như nước hòa với sữa, cùng hoằng truyền lời dạy của Đại sư, sống an lạc.’
Can gián như vậy mà kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián [21b01] mà bỏ thì tốt, không bỏ, Tăng-già-bà-thi-sa.
C.THÍCH TỪ
Yểm trợ phá:134 Nhân duyên yểm trợ thành tựu việc phá Tăng.
Hòa hợp: đồng Bố-tát, Tự tứ…
D. PHẠM TƯỚNG
Sai một người thân quen can gián, nếu bỏ thì phạm một Đột-kiết-la hối quá. Cho đến không can gián mà tự bỏ, đều như giới trước đã nói.
XII. ÁC TÁNH BẤT THỌ NHÂN NGỮ135
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại nước Câu-xá-di.136 Khi ấy, Tỳ-kheo Xiển-đà137 thường phạm các tội, vào nhà bạch y, lên giường, xuống giường đều
 

134 Hán: Trợ phá 助破. Tứ phần: Bạn đảng 伴黨. Tăng-kỳ, Thập tụng: Đồng ý tương trợ 同意相助. Căn bản: Cộng vi bạn đảng 共為伴黨. Pāli: vaggavādaka.
135 Tăng-kỳ 7, tr. 284c22: Tăng-già-bà-thi-sa 12. Tứ phần 5, tr. 599a16. Thập tụng 4, tr. 27c6. Căn bản 16, tr. 707a25: Tăng-già-bà-thi-sa 13. Pāli, Saṅghādisesa 12
136 Tăng-kỳ 7, tr. 284c22: Câu-xá-di 俱舍彌, Tứ phần 5, tr. 599a16, Thập tụng 4, tr. 27c6: Cũng Câu-thiểm-di 拘睒彌, Căn bản 16, tr. 707a25: Kiều-thiểm-tì 橋閃毘.  Pāli: Kosambiyaṃ Ghositārāme.
137 Hán: Xiển-đà 闡陀: Tăng-kỳ, Tứ phần, Căn bản: Xiển-đà 闡陀, Thập tụng: Xiển-na 闡那. Pāli. Channa, thường gọi là Xa-nặc, người hầu ngựa của Thái tử. Sau khi theo Phật xuất gia, ông là một trong những thành viên của nhóm lục quần. Sau khi Phật diệt độ, ông theo ngài A-nan học đạo, chứng A-la-hán.
 
không như pháp; ăn riêng chúng, ăn mãi; vào xóm làng không đúng lúc mà không thưa với thiện Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo thấy nói rằng:
“Thầy phạm tội như vậy, như vậy… Thầy nên thấy tội sám hối,138 đối với Phạm hạnh đừng để không thanh tịnh; nếu không sẽ chịu mọi khổ não lâu dài! Đừng để cho thí chủ mất đại công đức.”
Xiển-đà trả lời:
“Đại đức, các thầy không nên dạy tôi, mà tôi nên dạy các thầy! Tại sao vậy? Vì Pháp vương Thánh sư là chủ của tôi, pháp xuất ra từ tôi, không dính gì các Đại đức. Thí như gió lớn thổi các cỏ dơ cùng gom một chỗ, tất cả các Đại đức xuất gia từ nhiều dòng họ, gồm nhiều gia đình, gồm nhiều quốc gia, cũng lại như vậy. Tại sao mà muốn dạy dỗ tôi!? Các Đại đức, đừng nói với tôi (điều gì)* hoặc tốt hoặc xấu, tôi cũng không nói với các Đại đức (điều gì)* hoặc tốt hoặc xấu.”
Các Tỳ-kheo lại nói với Xiển-đà:
“Đừng nuôi lớn bản ngã139 mà không thể cùng nói chuyện. Thầy nên nói với các Tỳ-kheo (những gì)* hoặc tốt hoặc xấu, các Tỳ-kheo cũng sẽ nói với thầy (những gì)* hoặc tốt hoặc xấu. Như vậy lần lượt dạy bảo lẫn nhau, chỉ ra những tội cho nhau, mới thành chúng của Như Lai.”
Các Tỳ-kheo can gián như vậy, (Xiển-đà)* vẫn kiên trì không bỏ; nên dẫn đến chỗ đức Phật trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Xiển-đà:
“Thật ngươi có vậy không?”
Thưa:
 

138 Sám hối: Nên hiểu là phát lồ.
139 Hán: Tác tự ngã 作自我.
 
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »