biết mà nói, không nói như pháp, không nói đúng luật. Các người chớ nên vui thích yểm trợ phá hòa hợp Tăng, nên vui vẻ yểm trợ hòa hợp Tăng. Vì Tăng hòa hợp là nên hoan hỷ, không tranh chấp. Một lòng cùng học (một Thầy) như nước hòa với sữa, cùng hoằng truyền lời dạy của Đại sư, sống an lạc.’
Can gián như vậy mà kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián [21b01] mà bỏ thì tốt, không bỏ, Tăng-già-bà-thi-sa.
C.THÍCH TỪ
Yểm trợ phá:134 Nhân duyên yểm trợ thành tựu việc phá Tăng.
Hòa hợp: đồng Bố-tát, Tự tứ…
D. PHẠM TƯỚNG
Sai một người thân quen can gián, nếu bỏ thì phạm một Đột-kiết-la hối quá. Cho đến không can gián mà tự bỏ, đều như giới trước đã nói.
XII. ÁC TÁNH BẤT THỌ NHÂN NGỮ135
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại nước Câu-xá-di.136 Khi ấy, Tỳ-kheo Xiển-đà137 thường phạm các tội, vào nhà bạch y, lên giường, xuống giường đều
134 Hán: Trợ phá 助破. Tứ phần: Bạn đảng 伴黨. Tăng-kỳ, Thập tụng: Đồng ý tương trợ 同意相助. Căn bản: Cộng vi bạn đảng 共為伴黨. Pāli: vaggavādaka.
135 Tăng-kỳ 7, tr. 284c22: Tăng-già-bà-thi-sa 12. Tứ phần 5, tr. 599a16. Thập tụng 4, tr. 27c6. Căn bản 16, tr. 707a25: Tăng-già-bà-thi-sa 13. Pāli, Saṅghādisesa 12
136 Tăng-kỳ 7, tr. 284c22: Câu-xá-di 俱舍彌, Tứ phần 5, tr. 599a16, Thập tụng 4, tr. 27c6: Cũng Câu-thiểm-di 拘睒彌, Căn bản 16, tr. 707a25: Kiều-thiểm-tì 橋閃毘. Pāli: Kosambiyaṃ Ghositārāme.
137 Hán: Xiển-đà 闡陀: Tăng-kỳ, Tứ phần, Căn bản: Xiển-đà 闡陀, Thập tụng: Xiển-na 闡那. Pāli. Channa, thường gọi là Xa-nặc, người hầu ngựa của Thái tử. Sau khi theo Phật xuất gia, ông là một trong những thành viên của nhóm lục quần. Sau khi Phật diệt độ, ông theo ngài A-nan học đạo, chứng A-la-hán.