“Súc sanh gây rối còn cho là bậy, huống là đối với người ư! Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói hai lưỡi khiến Tỳ-kheo loạn đấu,18 Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trong giới hủy báng đã nói.
IV. THUYẾT PHÁP QUÁ NĂM LỜI19
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.20 Bấy giờ, Bạt-nan-đà21 thường tới lui một nhà cư sĩ vì họ nói pháp, liệu lý các việc quan, cứu các bệnh khổ.
Thời gian sau, gia đình kia bị [38c01] suy tán kiệt quệ, chỉ còn hai người, mẹ chồng và nàng dâu mà thôi. Vì tình thân hậu, khi Bạt-nan-đà vì mẹ chồng nói pháp, nàng dâu đến thì lại dừng (không nói nữa);* vì nàng dâu nói pháp, mẹ chồng đến thì cũng như vậy, khiến cả hai có ý nghi, là họ muốn làm hạnh bất tịnh. Cả hai mang việc này rao truyền, khắp nơi đều nghe. Những người không tin ưa Phật pháp bèn cơ hiềm nói:
“Sa-môn Thích tử làm việc phi pháp, còn hơn cả hạng người dâm đãng ở thế gian, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
18 Tứ phần: Lưỡng thiệt ngữ 兩舌語. Căn bản: Li gián ngữ 離間語. Pāli: bhikkhupesuñña, lời nói li gián Tỳ-kheo.
19 Tăng-kỳ 13, tr. 335b28, Tứ phần 11, tr. 640a14: Ba-dật-đệ 9. Thập tụng 9, tr. 70b14, Căn bản 26, tr. 770b24: Ba-dật-đề 5. Pāli, Pāc. 7 Dhammadesanasikkhā.
20 Tăng-kỳ 13, tr. 335b28; Tứ phần 11, tr. 640a14. Thập tụng 9, tr. 70b14: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 26, tr. 770b24: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
21 Tăng-kỳ: Ưu-đà-di 優陀夷; Tứ phần; Thập tụng: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷; Căn bản: Ổ-đà-đi 鄔陀夷.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo đại oai đức, đến giờ, khoát y mang bát vào thành khất thực, theo thứ tự đến một gia đình. Người phụ nữ ra trải tòa mời ngồi, cúng dường đồ ăn thức uống ngon bổ. Ăn xong, bà ta lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi phía trước, bạch:
“Đại đức vì con nói pháp.”
Tỳ-kheo quan sát, biết người phụ nữ này chỉ trong chốc lát nữa sẽ bị trúng gió chết và đọa vào địa ngục. Nếu vì bà nói pháp thì, liền trên chỗ ngồi xa lìa trần cấu. Tuy thấy biết như vậy, nhưng lại nghĩ như vầy: “Đức Phật cấm không cho phép vì người nữ nói pháp, cho dù bỏ mạng cũng không được phạm”. Liền trả lời:
“Tỷ muội cứ an, không thể nói được!”
Nói xong bỏ đi. (Tỳ-kheo)* đi không lâu, quả thật người phụ nữ trúng gió mà chết. Tỳ-kheo xót thương, trở về lại Tăng phòng kể lại với các thầy. Các Tỳ-kheo dẫn đến chỗ Phật, đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật lại hỏi Tỳ-kheo kia:
“Nếu ông vì phụ nữ đó nói pháp thì cần bao nhiêu lời họ hiểu được?”
Thưa:
“Bạch Thế Tôn, chừng năm, sáu lời.”
Khi ấy, đức Phật khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép các Tỳ-kheo vì người nữ nói pháp đến năm, sáu lời. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vào trong nhà người khác, người phụ nữ mời nói pháp, Tỳ-kheo nói năm, sáu lời rồi đứng im lặng. Các phụ nữ thưa:
“Chúng con chưa hiểu, xin thầy nói lại.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Này Tỷ muội, đức Phật không cho phép chúng tôi nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời.”
Các phụ nữ thưa:
“Có thể vì các Tỳ-kheo khác thuyết, nhân đó chúng con được hiểu.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật chưa cho phép chúng tôi [39a01] nhân có Tỳ-kheo khác mà vì người nữ nói pháp.”
Rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: