“Nay cho phép các Tỳ-kheo vào cung trống của vua nghỉ đêm. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khi vua346 chưa ra khỏi (chỗ để)* đồ báu, đồ báu chưa được thu cất; nếu vào quá hạn cửa hậu cung, Ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Đồ báu: Vật quí trọng và các nữ sắc đều gọi là báu.
Chưa ra: Nghĩa là người nữ còn ở trong cung.
Chưa cất: Nghĩa là người nữ ở trong cung chưa ẩn giấu.
Khi ấy, nếu vào quá hạn cửa hậu cung, cả hai chân, Ba-dật-đề. Tùy theo sự vào trong xa hay gần mỗi bước phạm một Ba-dật-đề. Nếu bước qua một chân, Đột-kiết-la. Vào các nhà đại thần, trưởng giả, vào quá bên trong cửa, Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Nếu vua mời vào thì không phạm.
LXVI. ĐI CHUNG VỚI CƯỚP347
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.348 Bấy giờ, hai nước Câu-tát-la và Ma-kiệt xâm lược nhau.349 Đường sá đi lại giữa hai nước bị cắt đứt. Tỳ-
346 Tứ phần: Vua thuộc hàng Sát-lợi Quán đảnh. Tăng-kỳ: Vua không phải dòng Sát-lợi; hoặc dòng Sa-lợi nhưng không phải Quán đảnh; đều không phạm.
347 Tăng-kỳ 19, tr. 383c23: Ba-dật-đề 71; Tứ phần 17, tr. 681b18: Ba-dật-đề 67; Thập tụng 16, tr. 116a02, Căn bản 41, tr. 852c15: Ba-dật-đề 71. Pāli, Pāc. 66, Theyyasattha.
348 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Duy-da-ly 維耶離; Căn bản: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
349 Tăng-kỳ: Hai nước Xá-vệ và Tỳ-xá-ly có sự hiềm khích nhau. Tứ phần: Các Tỳ-kheo từ nước Xá-vệ muốn đến Tỳ-xá-ly. Thập tụng: Từ nước Bạt-kỳ du hành đến Duy-la-ly. Căn bản: Từ thành Vương Xá..... muốn đến thành Thất-la-phiệt đảnh lễ đức Thế Tôn. Tỳ-kheo đi chung với bọn cướp để khỏi lạc đường.
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng giặc làm bạn đồng hành, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo cùng giặc đi chung một đường mà không biết là giặc, khi đã biết liền hổ thẹn và cho rằng phạm Ba-dật-đề, hoặc tránh bên đường, hoặc đi sau.
Giặc liền hỏi:
“Tại sao các ông làm như vậy?”
Trả lời:
“Đức Phật cấm không cho chúng tôi cùng làm bạn đi với các ông.”
Bọn giặc nghe những lời này, liền nổi giận dữ, đánh các Tỳ-kheo rồi lột hết y áo. Khi trở lại trú xứ, các Tỳ-kheo đem sự việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Không biết là giặc, cùng đi với họ, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, biết là giặc mà làm bạn đồng hành, phạm Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo, trên đường đi, tình cờ gặp giặc, bèn sanh hổ thẹn, cho rằng phạm Ba-dật-đề, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu không hẹn, tình cờ gặp giặc trên đường đi mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy: