Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 119: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG V: PHÁP ĐỌA. VI. Đọc Kinh Chung: B. Giới Tướng. C. Thích Từ. VII. Ngủ Chung Buồng Với Người Chưa Thọ Cụ Túc: A. Duyên Khởi (Trang 319 - 322)

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, dạy người chưa thọ Cụ túc giới tụng kinh, cùng tụng, Ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Cùng tụng: Tụng một lượt. Hoặc âm thinh (người tụng trước)* chưa dứt người kia đã tụng, hoặc  người kia tụng chưa xong, người này (tụng)* lập lại.40 Mỗi câu đều Ba-dật-đề.
Trước hết nên chỉ dẫn: “Đợi tôi nói rồi, sau mới lập lại.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới, Đột-kiết-la.
VII. NGỦ CHUNG BUỒNG VỚI NGƯỜI CHƯA THỌ CỤ TÚC41
A. DUYÊN KHỞI
Khi đức Phật ở tại ấp A-trà-bễ,42 vì đức Phật sắp đi nên các cư sĩ kia đều đến chỗ Tỳ-kheo, cùng các Tỳ-kheo ở chung một nhà ngồi thiền,43 hoặc cùng đi kinh hành, đầu đêm cuối đêm đều không ngủ. Trong năm ngày (thuyết pháp)* thì đêm hoàn tất nói pháp vì quá mệt
 

40 Tứ phần: Phi cú nghĩa 非句義, như một người nói “Chớ làm các việc ác” chưa xong, người thứ hai nói lại câu “Chớ làm các việc ác”. Phi cú vị 非句味, như một người chưa nói xong “Mắt vô thường…”, người thứ hai lập lại lời nói trước “Mắt vô thường…”
41 Tăng-kỳ 17, tr. 365b03: Ba-dật-đề 41; Tứ phần 11, tr. 638a28: Ba-dật-đề 5. Thập tụng 15, tr. 105b09, Căn bản 39, tr. 838c07: Ba-dật-đề 54. Pāli: Pāc. 5, sahaseyya, Vin. iv.15.
42 A-trà-bễ ấp阿荼髀邑. Tăng-kỳ 17, tr. 365b03: Khoáng Dã tinh xá 曠野精舍; Tứ phần 11, tr. 638a28:  Khoáng Dã thành 曠野城. Thập tụng 15, tr. 105b09: A-la-tỳ quốc 阿羅毘國, Căn bản 39, tr. 838c08: Thất-la-phạt thành 室羅伐城. Pāli. Āḷarī.
43 Pāli. navakā bhikkhū… upāsakehi saddhiṃ…, các tân Tỳ-kheo… cùng với các cư sĩ.
 
mỏi nên các Tỳ-kheo ngủ mê. Có một Tỳ-kheo không chuyên niệm, ngủ quá mê, đạp y lìa khỏi  thân, hình bày rõ ràng. Cư sĩ thấy, lấy y phủ lại, cho đến ba lần, bèn nổi giận chê trách: “Thường nghe những người này hay dùng mọi cách chê trách dục mà nay phát khởi lộ hình. Như vậy, giống như không thích đạo, sao không hoàn tục!?”
Tỳ-kheo kia nghe, sanh tâm hổ thẹn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe cũng hổ thẹn vô cùng, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách Tỳ-kheo kia:
“Ta thường khen ngợi ngủ tâm không tán loạn thì không có năm điều ác, nay tại sao ông ngủ mà không buột niệm? Nếu Tỳ-kheo ở chỗ kinh hành, ngồi tọa thiền, đứng, nằm mà phi oai nghi, người thấy sẽ không vui, (người không tin sẽ)* không sanh lòng tin; người đã có lòng tin thì sẽ thối lui, chẳng phải là người tạo ánh sáng cho đời.
Rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng ngủ đêm với người chưa thọ đại giới, Ba-dật-đề.”
Sau đó, các cư sĩ lại muốn đến chỗ các Tỳ-kheo tọa thiền hành đạo, các Tỳ-kheo đuổi ra không cho phép. Các cư sĩ thưa:
“Đại đức không được xua đuổi! Chúng con không tìm cầu phước điền nào khác, chỉ nương nhờ Đại đức, há có thể vì một người có lỗi mà tất cả chợt bị đuổi hết?”
Trong số cư sĩ, có người khỏe mạnh đột nhập vào phòng, các Tỳ-kheo không ngăn chận được, bèn ra ngủ bên ngoài, bị mòng muỗi, gió mưa, bụi bặm làm khốn đốn.
Bấy giờ, đức Phật từ ấp A-trà-tỳ đến nước Câu-xá-di,44 ngụ ở vườn Cù-sư-la.45 La-hầu-la46 một mình đến Tăng phường Bà-kỳ-la;47 rưới nước, lau quét một căn phòng, trải tọa cụ, lấy nước, rồi đóng cửa, đến chỗ Phật. Sau đó, Tỳ-kheo phân ngọa cụ [40b01] lại giao cho vị khác. Tỳ-kheo kia liền vào phòng ở. La-hầu-la, sau khi nghe pháp đầu đêm xong trở về phòng đã được (dọn)*. Tỳ-kheo kia nghe thấy hỏi:
“Ai đó?”
Trả lời:
“Là La-hầu-la.”
Tỳ-kheo kia nói:
“Ông đến đây có việc gì?”
Trả lời:
“Đây là phòng của tôi.”
Tỳ-kheo kia nói:
“Tỳ-kheo phân phối ngọa cụ đã giao cho tôi.”
La-hầu-la nói:
 

44 Câu-xá-di quốc拘舍彌國. Tăng-kỳ: Ca-duy-la-vệ quốc 迦維羅衞國. Tứ phần: Câu-thiệm-tỳ quốc 拘睒毘國. Thập tụng: Phật tại Xá-vệ 舍衞國. Căn bản: Kiều-thiểm-tì, diệu âm viên 憍閃毘妙音園. Pāli: Kosambī.
45 Vườn Cù-sư-la (Ghositārāma ): xem cht. 107, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 10.
46 La-hầu-la (Pāli: Rāhula). Tứ phần: La-vân.
47 Tăng phường Bà-kỳ-la 婆耆羅僧坊: Pāli: Badarikārāma, khu phường Tăng này gần vườn Cù-sư-la, cách Kosambī ba dặm.
 
“Nhưng trước đây tôi đã dọn quét, trải ngọa cụ, rồi tạm thời đến chỗ Phật để nghe pháp, tại sao không trả phòng lại cho tôi?”
Tỳ-kheo kia nói:
“Tuy ông đã liệu lý, nhưng tôi là Thượng tọa nên được ở phòng này.”
La-hầu-la nói:
“Cùng tôi ở được không?”
Vị kia nói:
“Không được.”
(La-hầu-la)* xin vào ngồi, đứng trong phòng, hay ở trước hiên nhà cũng đều không được. Lúc này, La-hầu-la nghĩ như vầy: “Ta đến phòng nào khác thì cũng sẽ như vậy, chỉ có nhà vệ sinh mới được yên thôi!”. La-hầu-la liền đến nhà vệ sinh. Bấy giờ, trong nhà vệ sinh có một con rắn đen. Bằng thiên nhãn đức Phật thấy và nghĩ: “Nếu Ta không đến thì chỉ trong chốc lát nữa là La-hầu-la bị rắn cắn chết!” Ngài liền đến trước nhà vệ sinh khảy móng tay, tằng hắng. La-hầu-la cũng trả lời (bằng khảy móng tay, tằng hắng.)* Đức Phật hỏi:
“Ngươi là ai?”
Thưa: “Là La-hầu-la.”
Lại hỏi: “Tại sao ở nơi đây?”
(La-hầu-la)* trình bày lại hết mọi sự việc. Bấy giờ đức Thế Tôn dẫn La-hầu-la về nơi phòng mình. Sáng ngày tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Thật sự ông không dung chứa La-hầu-la phải không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »