Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 187: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG V: PHÁP ĐỌA. XLVIII. Kiên Trì Ác Kiến: B. Giới Tướng (Trang 440 - 441)

Các Tỳ-kheo thưa:
“Chúng con không hiểu như vậy.”
Lại hỏi: “(Hiểu)* thế nào?”
Thưa: “Phật nói pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Nói rộng như trên.”
Đức Phật dạy:
“Lành thay! Các ông đã khéo hiểu ý của Ta.”
(Đức Phật)* bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một Tỳ-kheo thân thiện với A-lê-tra, nơi chỗ vắng dùng lời mềm mỏng can gián, rằng: ‘Người chớ nên nói những lời như vậy, chớ nên hủy báng Phật, chớ nên vu khống Phật. Đức Phật dạy pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. người nên bỏ ác tà kiến này.’ Nếu bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì số đông Tỳ-kheo đến can gián như trên. Nếu bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì Tăng lại nên đến can gián như trên, nếu bỏ thì tốt.”
Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy ba phen (can gián)* như vậy, A-lê-tra vẫn kiên trì không bỏ. Các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, chuyển lời quở trách A-lê-tra rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói như vầy: ‘Như chỗ tôi hiểu, những gì đức Phật dạy là pháp chướng đạo thì thật sự không chướng đạo.’268 Các Tỳ-
 

268 Tăng-kỳ: “Tôi biết, pháp Thế Tôn dạy, Thế Tôn nói pháp chướng đạo thì rõ ràng pháp này không chướng đạo.” Thập tụng: “Tôi biết nghĩa pháp Phật như vầy, pháp tạo chướng đạo thì không thể chướng đạo.” Căn bản: “Tôi biết những pháp đức Phật dạy thì dục là pháp chướng ngại thì rõ ràng khi thực hành nó không phải là chướng ngại.” Pāli: Pāc. 68, Ariṭṭha (Diṭṭhi [micchādiṭṭhi]). “Theo như tôi hiểu về pháp đã được đức Thế Tôn dạy thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn dạy không thể đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.”
 
kheo nói với Tỳ-kheo này: ‘Thầy chớ nói như vậy, chớ hủy báng Phật, chớ vu khống Phật. Đức Phật nói pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Thầy nên bỏ ác tà kiến đó.’ Khi can gián như vậy đương sự kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián [57b01] bỏ việc này thì tốt, không bỏ, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo kia không bỏ ác tà kiến, các Tỳ-kheo hoặc thấy hoặc nghe, sai một Tỳ-kheo can gián nơi chỗ vắng, nếu họ bỏ thì trao cho một Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì số đông Tỳ-kheo đến can gián, nếu họ chịu bỏ, thì trao cho hai Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì Tăng đến can gián, nếu họ bỏ, thì trao cho ba Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì nên bạch tứ yết-ma để can gián. Một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... sanh ác tà kiến nói những lời như vầy: ‘Như chỗ tôi hiểu, những gì đức Phật dạy là pháp chướng đạo, sự thật không chướng đạo.’ Tăng đã can gián: ‘Chớ nói như vậy, chớ hủy báng Phật, chớ vu khống Phật. Đức Phật nói pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo.’ Tăng can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ. Nay Tăng yết-ma can gián. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi nên nói:
“Tăng đã bạch rồi, người nên bỏ ác tà kiến này.”
Nếu họ bỏ thì trao cho bốn Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì nên xướng:
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »