Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 200: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG V: PHÁP ĐỌA. LVI. Ngủ Chung Buồn Người Nữ: B. Giới Tướng. C. Thích Từ. LVII. Uống Rượu: A. Duyên Khởi (Trang 459 - 462)

Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, cùng người nữ ngủ chung nhà (buồng), Ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Người nữ: Cho đến cả mới sinh và người nữ hai căn, ngủ chung nhà đều Ba-dật-đề.
Nhà:300 Như trong giới cùng người chưa thọ Cụ túc đã nói.
Nếu cùng phi nhân nữ, súc sanh cái, huỳnh môn ngủ chung nhà đều Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu nhà có lợp và có ngăn cách, hoặc đại hội nói pháp, hoặc mẹ hay chị em thân thuộc có bệnh mà có người nam tử hiểu biết làm bạn, không nằm, đều không phạm.
LVII. UỐNG RƯỢU301
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại nước Câu-xá-di.302 Bấy giờ, đức Thế Tôn chưa cấm Tỳ-kheo uống rượu. Có các Tỳ-kheo ở trong quán rượu hay trong nhà bạch y, uống nhiều rượu say túy lúy. Có khi rớt xuống hầm, hào
 

300 Nhà, Hán: thất 室. Thập tụng: Xá 舍. Các bộ khác đều nói là thất. Pāli: seyya, buồng ngủ; định nghĩa: hoặc được che lợp kín; hoặc được bao che kín; hoặc che lợp một phần; hoặc bao quanh một phần.
301 Tăng-kỳ 20, tr. 386c13: Ba-dật-đề 75; Tứ phần 16, tr. 671b21: Ba-dật-đề 51; Thập tụng 17, tr. 120b29, Căn bản 42, tr. 857a13: Ba-dật-đề 79. Pāli, Pāc. 51, Surāmerayapāna.
302 Tăng-kỳ: Câu-thiểm-di 拘睒彌; Tứ phần: Chi-đà quốc 支陀國; Thập tụng: Chi-đề quốc 支提國; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
 
hoặc va vào vách, vào đồ vật; có khi làm cho y bát rách, vỡ, thương tổn đến thân thể. Các bạch y thấy vậy cơ hiềm nói:
“Bạch y chúng tôi còn không có uống rượu, huống là Sa-môn Thích tử [60a01] bỏ đời303 cầu đạo mà lại say rượu nhiều còn hơn người đời, không xứng mặc y hoại sắc cắt rọc, không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ nước Câu-xá-di đến ấp Bạt-đà-việt.304 Khi ấy, nơi ở của Phạm-chí bối tóc có một con độc long, thường phun mưa đá lớn làm hại ruộng lúa. Các cư dân ở đây thường nghĩ như vầy: “Trong số Sa-môn, Bà-la-môn, ai là người đủ oai đức để có thể hàng phục được con rồng này?”
Nghe đức Phật cùng một nghìn hai trăm năm mươi đệ tử đều đến ấp này, không ai là không vui mừng, tất cả đều ra nghinh đón, đảnh lễ sát chân Phật rồi thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, ấp này có một con độc long ác, thường phá hoại ruộng lúa, chúng con hằng mong có được một vị đại oai đức để hàng phục nó.”
Khi ấy, Sa-kiệt-đà305 ở sau quạt hầu Phật, đức Phật liền quay lại hỏi:
“Ông có nghe các cư sĩ này nói những gì không?”
Thưa:
“Có nghe.”
Lần thứ hai, lần thứ ba (Phật)* hỏi và (Sa-kiệt-đà)* trả lời cũng như vậy. Sa-kiệt-đà liền nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn ba lần hỏi lại là có ý sai ta hàng phục độc long này.” Sa-kiệt-đà liền đến trước kính lễ sát
 

303 Hán: Xả luỵ 捨累.
304 Ấp Bạt-đà-việt 跋陀越邑: Pāli. Bhaddavatikā, gần nước Câu-xá-di.
305 Sa-kiệt-đà 沙竭陀. Tăng-kỳ, Căn bản: Thiện Lai 善來. Tứ phần: Sa-già-đà 娑伽陀. Thập tụng: Sa-già-đà 莎伽陀. Pāli: Sāgata.
 
chân Phật rồi nhiễu quanh mà đi. Đến chỗ con rồng kia, nghĩ như vầy: “Nay ta nên hàng phục con rồng này, nhưng không hoại thân hình, mà khiến thân nó nhỏ lại như cái que cây.” (Sa-kiệt-đà)* liền vào trong nhà Phạm-chí, ngồi lui qua một bên. Thân rồng bèn tuôn ra khói, thân Sa-kiệt-đà cũng tuôn ra khói. Cả thân con rồng thành lửa, cả thân Sa-kiệt-đà cũng thành lửa. Lửa rồng biến thành năm màu, lửa của Sa-kiệt-đà cũng biến thành năm màu. Lúc này, thân rồng biến nhỏ lại như cây que, bỏ vào trong bình bát đem đến chỗ Phật, thưa:
“Bạch đức Thế Tôn, rồng ác độc này, nay đã bị hàng phục, nên để vào chỗ nào?”
Đức Phật dạy:
“Có thể để nó nơi trung gian thế giới.”
Sa-kiệt-đà vâng lời Phật dạy, trong chớp nhoáng như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, đem nó để nơi trung gian thế giới, chỉ trong chốc lác trở về. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn rời ấp Bạt-đà-việt trở về Câu-xá-di. Lúc này, các cư sĩ ấp Bạt-đà-việt nghe Sa-kiệt-đà hàng phục con độc long, tất cả đều rất vui mừng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Vị nào là Sa-kiệt-đà?”
Khi ấy, Sa-kiệt-đà đang đứng phía sau Phật. Các Tỳ-kheo nói: “Là người đang đứng hầu phía sau Phật đó.”
Các cư sĩ đến trước mặt kính lễ sát chân và thưa: “Xin ngài nhận lời thỉnh mời của chúng con.”
(Sa-kiệt-đà)* im lặng nhận lời. Các cư sĩ thưa:
“Đại đức cần những thức ăn gì?”
Trả lời:
“Khi tôi là bạch y, tánh ưa rượu thịt.”
Cư sĩ hoan hỷ, liền sắm sửa rượu thịt. Sa-kiệt-đà đến nhà họ, ăn thịt uống rượu hết sức đầy đủ, rồi trở về lại Câu-xá-di. Khi về đến ngoài Tăng phường, vì bị quá say, nằm bẹp, ói mửa, y bát vung vải lung tung. Bấy giờ, đức Thế Tôn với thiên nhãn từ xa nhìn thấy, bảo tôn giả A-nan:
“Cùng Ta ra ngoài Tăng phường xem.”
[60b01] Vâng lời dạy, theo Phật ra ngoài chứng kiến hiện tượng này. Đức Phật cùng tôn giả khiêng lại cạnh giếng nước. Đức Phật tự xách nước dội, còn A-nan thì lau rửa, rồi mặc y vào, để nằm trên giường dây, đầu hướng về đức Phật. Trong giây lát, Sa-kiệt-đà lại trở mình chân đạp Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Sa-kiệt-đà trước đây có kính trọng Như lai không?”
Thưa:
“Có kính trọng.”
Lại hỏi:
“Hiện nay còn kính hay không?”
Thưa:
“Bất kính vậy!”
Lại hỏi:
“Có nên uống rượu để rồi mất bản tính hay không?”
Thưa:
“Không nên.”
Lại hỏi:
“Trước đây, Sa-kiệt-đà có thể hàng phục độc long, nay có thể hàng phục được con ểnh ương hay không?”
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »