Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 8: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG I: BA-LA-DI. II. Bất Dữ Thủ: A. Duyên Khởi (Trang 69 - 75)

thọ lạc; khi vào không thọ lạc; khi xuất, vào, trụ đều thọ lạc; khi ngủ cho đến khi vào phân nửa đều phạm Ba-la-di.
Khi còn bộ xương, vào quá nửa, xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không xuất bất tịnh phạm Thâu-lan-giá.
Khi xuất nhập trụ đều không thọ lạc thì không phạm.
Nếu Tỳ-kheo với tâm dâm dục, dùng nam căn để vào những chỗ trên, một phần thôi cũng phạm Ba-la-di. Nếu dùng ngón tay, hay tất cả vật bên ngoài để vào trong các chỗ nói trên đều phạm Thâu-lan-giá. Tỳ-kheo-ni cũng phạm Ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la, và bị tẫn xuất.
Không phạm: cuồng tâm, loạn tâm, bệnh hoại tâm, phạm lần đầu. Bốn trường hợp này đều không phạm. Tất cả các giới sau đều như vậy, khỏi phải chép lại.
II. BẤT DỮ THỦ89
A. DUYÊN KHỞI
1. Nhân duyên kết giới lần thứ nhất
[5b01] Đức Phật ở tại thành Vương Xá,90 khi ấy có Tỳ-kheo tên là Đạt-ni-ca,91 con nhà đồ gốm, dựng lên một thảo am để ở, tại núi Ất-
 

89 Tứ phần, tr. 572b6; Thập tụng, tr. 3b8; Căn bản, tr. 635c24; Pāli. Vin. iii. tr. 41; Tăng-kỳ, tr. 238a27 (phần kết): “Thế Tôn trú tại thành Tỳ-da-ly, sau thành đạo năm thứ 5, nửa tháng thứ năm, ngày 12, sau bữa ăn trưa, bóng ngả về phía đông cỡ nửa người đang ngồi, nhân trường hợp Trưởng lão Da-xá Ca-lan-đà Tử, chế giới này.”
90 Tứ phần (tr. 572b6), La-duyệt thành Kỳ-xà-quật sơn 羅閱城耆闍崛山. Căn bản (tr. 635c24): Phật tại Vương Xá, bên bờ ao Yết-lan-đạc-ca, trong vườn Trúc lâm 王城羯闌鐸迦池竹林園中. Pāli, Vni.iii.41: rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
91 Tăng-kỳ: ngoã sư tử trưởng lão Đạt-nị-già 瓦師子長老達膩伽 (con người thợ gốm trưởng lão Đạt-nị-già). Tứ phần: Đàn-ni-ca đào sư tử 檀尼迦陶師子 (Đàn-ni-ca con người thợ gốm). Thập tụng: Đạt-ni-ca 達尼迦. Căn bản: Đản-ni-ca bí-sô đào sư tử 但尼迦苾芻陶師子 (Bí-sô Đản-ni-ca con người thợ gốm). Pāli: dhaniyo kumbhakāraputto, con trai người thợ gốm tên Dhaniya.
 
la.92 Đến giờ bưng bát vào thành khất thực, sau đó, người lấy củi phá am mang cây gỗ đi. Sau khi khất thực xong trở về, phải tu bổ am trở lại đến ba lần như vậy, nên ôm hận trong lòng, bèn nghĩ như vầy: “May tự thân ta có khả năng hoàn thiện việc trộn bùn, tại sao không hoàn thành cái am gạch93 để tránh khỏi cái nạn này!” Liền tạo dựng ra nó, gồm sườn nóc, có trụ cột, sà nhà, rui kèo chạm trỗ đẹp, có cửa ra vào và cửa sổ... đầy đủ, tuyệt hảo như thần; rồi gom chất củi nung thành màu đỏ tươi, rất đẹp. Khi có gió lớn tạo thành tiếng nhạc (không hầu).
Đức Phật ở trên núi Kỳ-xà-quật, từ xa trông thấy cái am kia màu đỏ, chạm vẽ đẹp đẽ, hỏi tôn giả A-nan: “Đó là cái nhà nào vậy?”
Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Đó là (nhà)* của Đạt-ni-ca, tự sức tạo ra.”
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
“Đạt-ni-ca làm điều phi pháp, tại sao xuất gia lại tạo ác nghiệp này, tàn hại đến mệnh vật, không có lòng thương xót!? Trước đây Ta đã bằng nhiều cách nói pháp từ bi, an nhẫn, tại sao Tỳ-kheo lại không có lòng từ này?”
Đức Thế Tôn bằng mọi phương tiện quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Các ông đến phá cái nhà đã làm ra kia đi.”
 

92 Ất-la sơn 乙羅山. Tứ phần: Nhàn tĩnh xứ 閑靜處, cũng nói là a-lan-nhã (Pāli: arañña), thường chỉ khu rừng vắng, không thú dữ. Căn bản: tại a-lan-nhã 阿蘭若. Pāli: Isigilipassa, hang Tiên nhân.
93 Tứ phần: căn nhà làm toàn bằng gạch (Hán: toàn thành ngõa ốc 全成瓦屋). Pāli: sabbamattikāmayaṃ kūṭikaṃ, căn nhà làm toàn bằng đất sét.
 
Các Tỳ-kheo vâng lời, liền đến chỗ cái nhà đó (để phá)*. Lúc ấy Đạt-ni-ca từ trong nhà bước ra hỏi các Tỳ-kheo:
“Tôi không xúc phạm nhau, tại sao quý vị hùa nhau muốn đến phá nhà tôi?”
Các Tỳ-kheo trả lời:
“Chẳng phải là ý chúng tôi, mà vâng lệnh đức Thế Tôn.”
Đạt-ni-ca nói:
“Nếu là bản hoài đức Pháp vương thì tôi lại dám nói sao!”
Các Tỳ-kheo liền cùng phá nó, rồi dẫn Đạt-ni-ca đến chỗ đức Phật, trình bày sự việc lên đức Phật.
Đức Phật dùng nhân duyên này tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Đạt-ni-ca:
“Thật sự ông có làm không?
Thưa: “Thật con làm, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách như trên rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay, nếu có Tỳ-kheo nào làm nhà (đất)* nung thành gạch, phạm Thâu-lan-giá;94 tự thể hiện công xảo, phạm Đột-kiết-la.”
Đạt-ni-ca lại nghĩ như vầy: “Trước đây ta dựng am bằng cỏ luôn bị tiều phu phá hoại, sau làm nhà gạch lại trái với thực thể người xuất gia của đấng Pháp vương. Nay nên đổi cách tìm gỗ tốt tạo dựng nhà lớn, tất sẽ được tồn tại lâu dài, khỏi phải khổ não nữa”. Lại nghĩ như vầy: “Người coi cây gỗ95 thành Vương Xá96 là bạn tri thức của ta, ta sẽ đến đó để cầu xin.” Nghĩ rồi, liền đến nói:
 

94 Tứ phần (tr. 572b27): Từ nay trở đi, các ông không được làm thất toàn bằng gạch có màu đỏ như lửa như thế. Nếu làm, phạm đột-kiết-la.
95 Hán: Điển tài lệnh 典材令. Tăng-kỳ: mộc tượng đại thần Da-thâu-đà 木匠大臣耶輸陀. Tứ phần: Thủ tài nhân 守材人. Thập tụng: tài mộc sư 材木師. Căn bản: chưởng mộc đại thần 掌木大臣. Pāli: dārugaha gaṇaka, người quản lý lâm sản.
96 Tứ phần: Ma-kiệt quốc Bình-sa vương 摩竭國瓶沙王. Thập tụng: Ma-kiệt quốc chủ Vi-đề-hi Tử A-xà-thế vương 摩竭國主韋提希子阿闍世王. Căn bản: Ma-yết-đà quốc Thắng Thân chi tử Vị Sinh Oán Vương 摩揭陀國勝身之子未生怨王. Pāli, Vin. iii. 43, chuyện xảy ra dưới triều vua Seniya Bimbisāra vua nước Magadha.
 
“Tôi cần cây gỗ, có thể cho tôi?”
Người coi cây gỗ nói:
“Đối với cây gỗ, tôi không có quyền cho.” 
Hỏi: “Do ai?”
Đáp: “Do Vua.”
Đạt-ni-ca nói:
“Vua đã cho tôi.”
Người giữ cây gỗ nói:
“Nếu vua đã cho thì tùy ý lấy.”
Đạt-ni-ca bèn lấy những cây gỗ lớn để phòng vệ thành chặt đứt mang đi. [5c01] Khi ấy đại thần Vũ Xá97 đi thanh tra các nơi, trên đường bắt gặp, liền hỏi người giữ gỗ:
“Tại sao đem những cây gỗ lớn để phòng vệ thành cho Tỳ-kheo kia?”
 Trả lời:
“Chẳng phải tôi cho.”
Lại hỏi:
“Là ai?”
Đáp:
 

97 Tứ phần (tr. 572c9): Đại thần tổng giám sát các sự việc của thành. Pāli: Vassakāra, đại thần của nước Magadha.
 
“Là vua.”
Vũ Xá liền tâu vua:
“Vì sao Đại vương đem những cây gỗ lớn để phòng vệ thành cho Đạt-ni-ca mà không xét?”
Nhà vua hỏi:
“Ai nói ta cho?”
Vũ Xá tâu:
“Là người giữ cây gỗ.”
Nhà vua liền ra lệnh quan hầu cận bắt người giữ cây gỗ. Họ thừa lệnh liền bắt dẫn đến chỗ vua.
Thời điểm ấy, Đạt-ni-ca vào thành khất thực, trên đường đi thấy vậy hỏi:
“Bạn đã phạm những gì mà bị bắt trói như vậy?”
Đáp:
“Do Đại đức nên tôi phải chịu đại tội này. Xin Đại đức cứu thoát tính mạng tôi!”
Đạt-ni-ca nói:
“Bạn đến trước, tôi sẽ đến sau.”
Khi người giữ cây gỗ đến chỗ vua, vua hỏi:
“Tại sao ngươi đem những cây gỗ lớn để bảo vệ thành cho Đạt-ni-ca?”
Thưa:
“Tâu Đại vương! Hạ thần đâu dám tự chuyên quyền. Vì Đạt-ni-ca nói, vua sai bảo cho.”
Vua liền ra lệnh gọi (đương sự đến)*. Khi ấy, Đạt-ni-ca đã có mặt ngoài cửa. Nhà vua bảo vào trước, (Đạt-ni-ca)* liền vào trước gặp vua, vua hỏi:
“Trẫm cho Tỳ-kheo gỗ vào lúc nào?”
Đạt-ni-ca nói:
“Vua há không nhớ khi mới lên ngôi, nhà vua đem tất cả cỏ cây và nước trong vương quốc bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn’ sao?!”
Vua nói:
“Những gì Ta muốn bố thí vốn là những (vật)* không có chủ.98 Quái thay! Tỳ-kheo lại dùng phương tiện này để lấy vật người.”
Lại nói:
“Ta là vua Quán đảnh,99 tại sao phải bỏ tù hay giết Sa-môn?! Bây giờ, (Thầy)* nhanh trở về chỗ đức Phật, là vị Pháp vương Ngài sẽ tự có cách trị thầy.”
Lúc ấy, mọi người nghe đều kinh ngạc nói: “Đạt-ni-ca phạm tội đáng chết, tại sao chỉ quở trách rồi khiến cho đi!? (Tội)* như vậy mà được tha thì ai không làm việc ăn trộm!”
Lại cơ hiềm rằng: “Sa-môn Thích tử, tự thân nhận được sự cung cấp của vua, mà trộm gỗ vua, huống chi lại là chúng ta ngăn được, không sợ sao! Sa-môn Thích tử thường khen ngợi không ăn trộm, dạy người bố thí, tại sao bây giờ, tự mình lại làm việc của giặc? Những kẻ này không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.” Tiếng xấu như vậy lần lượt lan khắp. Các gia chủ, cư sĩ, Bà-la-môn.… không
 

98 Pāli: araññe apariggahitaṃ, vật vô chủ (không được ai thủ hộ) ở trong rừng (a-lan-nhã).
99 Vua Quán đảnh 灌頂王: Quán đảnh (Skt. abhiṣecana, Pāli. abhisekarājan) là nghi thức rưới nước lên đỉnh đầu. Thời xưa ở Ấn Độ, khi vua lên ngôi thì vị Quốc sư đem nước lấy từ 4 biển rưới lên đầu bày tỏ sự chúc phúc, nên gọi là vua Quán đảnh.
 
tin ưa Phật pháp trong nước, từ xa thấy Sa-môn liền bằng mọi cách mắng nhiếc. Các Tỳ-kheo nghe, cùng hỏi lại nhau:
“Ai ăn trộm gỗ cây của vua để đưa đến tiếng xấu này?”
Đạt-ni-ca nói:
“Điều đó tôi làm.”
Lúc ấy các Tỳ-kheo dùng mọi cách quở trách: “Thầy làm điều phi pháp, không phải đạo tùy thuận. Đức Thế Tôn bằng nhiều cách chê bai không cho mà lấy, khen ngợi không trộm cắp. Tại sao nay tự thầy làm việc của giặc?” Các Tỳ-kheo quở trách như vậy rồi, [6a01] dẫn đến chỗ Phật, trình bày mọi sự việc lên Phật.
Đức Phật nhân việc này tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Đạt-ni-ca:
“Thật ông có như vậy không?”
Đáp:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách như Tu-đề-na.
Khi ấy, vị đại thần nước Ma-kiệt100 xuất gia hành đạo đang đứng hầu Phật, đức Phật hỏi Tỳ-kheo ấy:
“Theo vua A-xà-thế, người ăn trộm ngang bao nhiêu thì mắc tội tử hình?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Từ năm tiền101 trở lên thì mắc tội tử hình.”
 

100 Tứ phần: Ca-lâu 迦樓, vốn là đại thần của nhà vua. Thập tụng, Căn bản: Phật sai A-nan đi hỏi những người hiểu biết trong thành về mức phạm tội theo luật vua. Vin. iii. 45: purāṇavohāriko mahāmatto, (Tỳ-kheo) nguyên là đại thần tư pháp.
101 Vin.nt., pādena... tena kho pana samayena rājagahe pañcamāsako pādo hoti, “bằng 1 pāda... thời bấy giờ, ở Rājagaha, 1 pāda = 5 māsaka. Tăng-kỳ 3, Phật trực tiếp hỏi vua Bình-sa. Vua trả lời: “19 tiền là 1 kế-lị-sa-bàn. Phân 1 kế-lị-sa-bàn (Pāli: kahāpaṇa; Skt. kārṣāpaṇa) thành 4; trộm 1 phần, hay vật trị giá 1 phần, tội chết.” Tứ phần, Thập tụng: 5 tiền 五錢. Căn bản: 5 ma-sái 磨灑.
 
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »