Nếu đem y cho Tỳ-kheo-ni bà con mà họ là người phá giới, phá kiến, Đột-kiết-la. Nếu đem y cho Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni không phải bà con, Đột-kiết-la. Sa-di, Đột-kiết-la.
Nếu vì liệu lý công việc, hoặc vì khéo nói kinh pháp, hoặc vì tụng nhiều kinh giới nên cho y thì không phạm.
XXVII. MAY Y CHO TỲ-KHEO-NI139
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.140 Bấy giờ, có một Tỳ-kheo-ni141 ít người quen biết, nhận được y chưa may thành, mà tự mình không biết may, nói với các Tỳ-kheo-ni rằng:
“Tôi không biết may y, xin vì tôi may giùm.”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Này tỷ muội! Chúng tôi nhiều việc không thể may được, cô có thể đến trong chúng Tỳ-kheo thưa, có thầy nào rủ lòng thương, chắc sẽ vì cô may.”
Cô liền đến trong chúng Tỳ-kheo thưa:
“Con là kẻ ít quen biết, nhận được y chưa may thành này, con không tự may được, mong vì con may giùm cho.”
139 Tăng-kỳ 15, tr. 349c12: Ba-dật-đề 29. Tứ phần 13, tr. 651a19: Ba-dật-đề 25; Thập tụng 12, tr. 84b22: Ba-dật-đề 27. Căn bản 33, tr. 805b27: Ba-dật-đề 25. Vin. iv. 61. Pāc. 26, cīvarasibbana.
140 Tăng-kỳ 15, tr. 349c12; Tứ phần 13, tr. 651a19; Thập tụng: 12, tr. 84b22 Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城(國) cũng như Ngũ phần. Căn bản 33, tr. 805b28: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
141 Tăng-kỳ: Tỳ-kheo-ni Thiện Sinh 善生比丘尼, vợ cũ của Ưu-đà-di. Tứ phần: Không tên như Ngũ phần. Thập tụng: Tỳ-kheo-ni Quật-đa 掘多比丘尼, quen biết cũ với Ca-lưu-đà-di. Căn bản: Bí-sô-ni Cấp-đa 笈多苾芻尼.