CHƯƠNG VIII
Điều 1. Nên ban cho hiện tiền Tỳ-ni[2] thì phải ban cho hiện tiền Tỳ-ni.
Xảy ra ở đâu? Đáp: Tại thành Chiêm-bà. Nhân ai phát khởi? Đáp: Nhóm sáu Tỳ-kheo.
Điều 2. Nên ban cho ức niệm Tỳ-ni[3] thì phải ban cho ức niệm Tỳ-ni.
Xảy ra ở đâu? Đáp: Tại thành Vương Xá. Nhân ai phát khởi? Đáp: Đà-bà con của Lực Sĩ.
Điều 3. Nên ban cho bất si Tỳ-ni[4] thì phải ban cho bất si Tỳ-ni.
Xảy ra ở đâu? Đáp: Tại thành Vương Xá. Nhân ai phát khởi? Đáp: Tỳ-kheo Già-già.
Điều 4. Nên ban cho pháp tự ngôn[5] thì phải ban cho pháp tự ngôn.
Xảy ra ở đâu? Đáp: Tại thành Xá-vệ. Nhân ai phát khởi? Đáp: Tỳ-kheo Dị.
[1] Tăng-kỳ 22 (tr. 412b5); Tứ phần 21 (tr. 713c210); Thập tụng 20 (tr. 141b12); Căn bản 50 (tr. 904b5). Pāli: adhikaraṇasamathā, Vin. iv. 207.
[2] Hán: Hiện tiền Tỳ-ni 現前比尼, Pāli: Sammukhāvinaya. Chiết phục bằng sự hiện diện.
[3] Ức niệm Tỳ-ni 憶念比尼, Pāli: Sativinaya. Chiết phục bằng sự nhớ lại.
[4] Bất si Tỳ-ni 不癡毘尼, Pāli: Amūḷhavinaya. Chiết phục bằng sự bất si.
[5] Ưng dữ tự ngôn應與自言, Pāli: Paṭiññāya karetabbaṃ. Phán quyết bằng sự tự nhận.