Đức Phật bảo các Tỳ-kheo, nên đem y này cúng cho Ca-diếp. Họ liền vâng lời.
Lúc ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo nói như vầy:
“Nay các Tỳ-kheo xoay vật của Tăng cho người mình quen biết.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói như vầy: ‘Các Tỳ-kheo xoay vật của Tăng cho người quen biết’, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
LXXXI. TỊNH THÍ Y RỒI ĐOẠT LẠI396
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.397 Bấy giờ, Tỳ-kheo Đạt-ma nghĩ như vầy: “Bạt-nan-đà trước đây đoạt y của ta, đức Phật quở trách ta, vì các Tỳ-kheo kết giới. Ta nói ông ấy [69a01] phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Ông ấy lại dùng pháp Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ hủy
396 Tăng-kỳ 19, tr. 379a02: Ba-dật-đề 62; Thập tụng 16, tr. 114b29, Căn bản 41, tr.851b25: Ba-dật-đề 68. Pāli, Pāc. 59, Vikappana. Tứ phần: Không có.
397 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành舍衞城; Thập tụng: Vương Xá thành王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
báng ta, và dứt phần ăn của ta cho đến ba ngày. Ta nên làm cách nào để trả mối hận này.” Lại nghĩ như vầy: “Ông ấy đối với ta tác tịnh thí y, ta không hoàn nó lại, là đủ để trả mối nhục.” Nhân đó không hoàn trả lại. Sau đó, Bạt-nan-đà đến đòi y.
Đạt-ma nói:
“Trước đây thầy bố thí rồi, sao nay đòi lại?”
Bạt-nan-đà nói:
“Ta tác tịnh thí, chứ ta đâu bố thí!”
(Dù vậy, Đạt-ma)* vẫn không hoàn lại. Bạt-nan-đà bèn cưỡng bức đoạt lấy. Đạt-ma liền la lớn.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe đều ra hỏi:
“Chuyện gì la to vậy!?”
(Đạt-ma)* trả lời:
“Bạt-nan-đà đoạt lấy y của con!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão quở trách Bạt-nan-đà:
“Tại sao tịnh thí cho người không đáng tin, để rồi phải đoạt lại?”
Lại quở trách Đạt-ma:
“Người tịnh thí y, tại sao ngươi không hoàn lại?”
Rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ông là người ngu si, thật sự ông có tịnh thí y cho người không đáng tin hay không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Lại hỏi Đạt-ma:
“Ông là người ngu si, thật sự người ta tịnh thí cho ngươi, ngươi không chịu hoàn lại phải không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên tịnh thí cho năm hạng người này:
- Một là không biết nhau.
- Hai là kém hiểu biết nhau.
- Ba là chưa quen thân.
- Bốn là không phải thân hữu hay đồng sư.
- Năm là hay thay đổi.
Không phải năm hạng người này thì sau đó nên tịnh thí cho. Lại có hai pháp không nên tịnh thí:
- Một là hay khen ngợi người.
- Hai là hay tạo tiếng tốt cho người.
Lại có hai pháp không nên tịnh thí:
- Một là không thể vì người nhận trọng vật tịnh thí, rồi bảo vệ như mình có.
- Hai là mình có trọng vật không thể tịnh thí, người kia cũng không hận.
Lại có hai pháp không nên tịnh thí:
- Một là không biết họ còn sống hay không.
- Hai là không biết họ còn tu hay không.”
Các Tỳ-kheo lại nghĩ: “Đức Phật cho chúng ta tịnh thí, nên tịnh thí cho cha mẹ, anh em, chị em.” Rồi đem việc này bạch lên Phật, đức Phật dạy:
“Không nên tịnh thí cho bạch y, nên tịnh thí cho năm chúng.”
Có các Tỳ-kheo ở một mình trong phòng, có y dư không biết tịnh thí thế nào, đem việc này bạch lên Phật, Phật dạy:
“Nên biểu hiện tác tịnh thí từ xa (hướng đến người ở xa mà tác tịnh thí)*. Nếu đối với ba y, cần trao đổi (y nào)* thì nên để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối, tay cầm y, tâm nghĩ, miệng nói:
“Y này là của tôi, gồm có bao nhiêu điều, nay tôi xin xả.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Sau đó, mới nhận cái y dư, cũng như pháp trước, tâm nghĩ, miệng nói:
[69b01] “Tôi có cái y này, gồm bao nhiêu điều, nay tôi xin thọ.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Chiếc y được xả, cũng nên tịnh thí, lại theo như pháp trước: Tâm nghĩ, miệng nói:
“Đây là chiếc y dư của tôi, xin tịnh thí cho thầy... xin đến đó lấy dùng.”
Nếu không cần thay đổi người thọ, thì chiếc y dư kia liền nên tịnh thí như vậy. Pháp tịnh thí riêng, đến ngày thứ mười một, lại phải như pháp trước, tâm nghĩ, miệng nói:
“Đây là chiếc y dư của tôi, đến nơi thầy...lấy trở lại.”
Sau đó, lại như pháp trước thọ trì tịnh thí. Nếu đối với người tịnh thí thì nên tác pháp triển chuyển tịnh thí như trước: Tay cầm y, nói như vầy:
“Đây là y dư của tôi, xin đối với Trưởng lão… làm pháp tịnh thí.”
Tỳ-kheo kia nên hỏi:
“Y này của Trưởng lão, tác tịnh thí đối với tôi, tôi nên đem cho vị nào?”
Trả lời: “Trong năm chúng, tùy ý ngài cho ai cũng được.”