Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 1

Luật Ngũ Phần 1

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 609.

Chương 82: PHẦN THỨ NHẤT: CHƯƠNG IV: XẢ ĐỌA. XV. Thuốc Bảy Ngày: A. Duyên Khởi (Trang 251 - 257)

Nếu xoay phẩm vật muốn cúng cho tháp về mình, cho Tỳ-kheo Tăng, Tỳ-kheo-ni Tăng, hai bộ Tăng, Tứ phương Tăng, người khác, tháp khác cũng đều Đột-kiết-la.
Nếu xoay phẩm vật muốn cho người cũng như vậy, cho đến xoay một miếng ăn định cho súc sanh này, đem cho súc sanh khác cũng Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bạch Tăng, Tăng cho, hoặc thí chủ tự ý xoay vật muốn cúng cho Tăng đem cho mình thì không phạm.
XV. THUỐC BẢY NGÀY98
A. DUYÊN KHỞI
Đức Thế Tôn ở tại thành Vương Xá.99 Bấy giờ, Tất-lăng-già-bà-ta100 ở núi Lăng-cầu-la, bay lên không trung rưới nước rửa bụi nơi phòng ở. Lúc đó vua Bình-sa cũng đi đến núi ấy. Tất-lăng-già thấy vua đến, lập tức trở về lại mặt đất, thưa rằng: 
“Lành thay Đại vương mới đến! Mời Đại vương ngồi nơi này.”
Vua ngồi rồi, hỏi:
“Tại sao ngài tự làm? Không có người giúp việc101 sao?”
(Tất-lăng-già)* nói:
 

98 Tăng-kỳ 10, tr. 316b3: Ni-tát-kỳ 23. Tứ phần 10, tr. 626c17: Ni-tát-kỳ 26. Thập tụng 8, tr. 60c18; Căn bản 24, tr. 759b4: Ni-tát kỳ 30. Pāli, Nissaggiya 23, bhesajja. Cf. Mahāvagga vi, Bhesajja-kkhando, Vin.i.198.
99 Tăng-kỳ 10, tr. 316b3; Tứ phần 10, tr. 626c17; Thập tụng 8, tr. 60c18; Căn bản 24, tr. 759b4: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國).
100 Tất-lăng-già-bà-ta 畢陵伽婆蹉: Pāli. Pilindavaccha.
101 Hán: Thủ viên nhân 守園人, người giữ vườn.
 
“Không.”
Nhà vua liền lệnh cho một vị cận thần:
“Nên cung cấp người giúp việc* cho Tỳ-kheo này.”
[31a01] Tất-lăng-già nói:
“Đức Phật không cho phép chúng tôi nuôi người giúp việc*.”
Vua nói:
“Có thể đem việc này bạch lên đức Phật.”
Sau khi nhà vua đi, (Tất-lăng-già)* liền đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới xong, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay, cho phép các Tỳ-kheo nuôi người giúp việc*”.
Tuy vua đã ra lệnh vị đại thần kia, nhưng ông ta không tin ưa Phật pháp cuối cùng không cung cấp người. Tất-lăng-già sau đó cũng không đến hỏi.
Một hôm, Tất-lăng-già đắp y bưng bát vào thành khất thực, vua cùng quần thần từ trên lầu cao nhìn thấy, liền nghĩ như vầy: “Trước đây, ta hứa cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo này, không biết đã làm chưa?” liền hỏi vị đại thần trước, ông ta tâu:
“Dạ, chưa cấp.”
Vua lại hỏi:
“Từ khi ta ra lệnh đã năm lần,  đến nay là bao nhiêu ngày rồi?”
Đại thần tâu:
“Đã năm trăm ngày.”
Vua bảo:
“Tùy theo số ngày này mà cung cấp.”
Vị đại thần vâng lệnh, liền chọn năm trăm nhà, mỗi nhà một người để cấp. Bấy giờ, năm trăm nhà, mỗi ngày sai một người đến để lau quét phòng xá và thừa hành mọi việc.
Lúc ấy, người thôn kia đến ngày lễ hội, nam nữ trang sức y phục đẹp rực rỡ xuất hành dạo chơi. Có một người con gái nhà nghèo vừa đi vừa khóc lớn. Lúc ấy, Tất-lăng-già vào thôn khất thực, thấy người con gái khóc lóc, hỏi bà mẹ cô gái:
“Con gái của bà tại sao lại khóc la như vậy?”
Thưa:
“Hôm nay, mọi người đều trang sức y phục đẹp xuất hành dạo chơi, nhà tôi bần cùng không lấy chi chưng diện với người cho nên nó buồn, nó khóc.”
Lúc ấy, Tất-lăng-già nhìn thấy con bò đang gặm cỏ, nói với bà mẹ cô gái:
“Lấy một ít cỏ đến đây!”
Bà ta liền lấy đưa. Tất-lăng-già kết cỏ lại, biến hóa thành hai tràng hoa vàng, đưa cho mẹ cô gái kia, nói:
“Trong trời đất có hai loại vàng tốt hơn hết, là vàng Diêm-phù-đàn102 và vàng do thần túc biến hóa. Bà có thể cầm nó cho con gái bà mang.”
Cô gái kia nhận được rồi, rất vui mừng, bèn mang đi mang về,103 ai (thấy)* cũng đều ham thích. Hôm ấy, có một người thấy rồi sanh lòng ganh tỵ, liền tâu với vua Bình-sa:
 

102 Vàng Diêm-phù-đàn 閻浮檀金: Skt. jambūnada-suvarṇa, loại vàng này được sản xuất từ dòng sông Na-đa (nada, đàn), chảy qua rừng cây Diêm-phù (jambū). Vàng này có màu vàng đỏ óng ánh như tia lửa, là loại vàng quí nhất.
103 Hán: Trước xuất nhập 著出入, mang vòng hoa đi chơi lễ hội và mang về nhà.
 
“Thôn đó, gia đình đó, được kho chứa tốt (vật báu)*, nên người con gái của họ mang tràng hoa vàng mà trong thiên hạ không ai sánh kịp, hậu cung của Đại vương cũng chưa hề có.”
Vua liền cho gọi, và hỏi:
“Ngươi có được kho tàng, có thể chỉ cho ta?”
Thưa:
“Tâu Đại vương, thật sự tôi không được!”
Vua lại hỏi:
“Vật con gái ngươi mang, từ đâu có được?”
Thưa:
“Vật ấy do Tất-lăng-già kết cỏ biến hóa thành.”
Nhà vua nghe nói như vậy hết sức nổi giận và lấy làm lạ: “Tại sao cỏ mà hóa thành tràng hoa vàng?” Liền ra lệnh cho quan cai ngục104 bắt trói hạ ngục.
Hôm sau, Tất-lăng-già lại đến thôn kia. Người con gái chợt thấy liền khóc lóc lớn. Hỏi:
“Vì sao nay ngươi lại kêu khóc lớn vậy?”
Thưa:
“Mẹ của con105 đang ở tù.”
Hỏi:
“Bị những tội gì?”
Thưa:
“Do Đại đức cho con tràng hoa vàng!”
 

104 Hán: Hữu ti 有司, chỉ quan cai ngục.
105 Hán: Gia thân 家親, người thân trong nhà.
 
Tất-lăng-già nói:
“Thôi đừng khóc! Ta sẽ [31b01] vì con tìm cách để mẹ con được ra.”
Trước hết Tất-lăng-già đến chỗ quan giữ ngục, quan giữ ngục thấy chào hỏi:
“Đại đức, có việc gì mà phải hạ cố đến đây?”
Trả lời:
“Người giúp việc* của ta bị nhốt nơi ngục, nên ta mới đến đây. Nay, ông có thể vì ta mà thả họ ra được không?”
Thưa:
“Người này được kho tàng báu mà không chỉ cho vua, nếu chỉ cho vua thì mới có thể được thả.”
Tất-lăng-già nói:
“Ta kết cỏ làm thành, chứ không phải là kho tàng đâu.”
Người kia hỏi:
“Kết cỏ thành vàng là điều không thể có!”
Tất-lăng-già liền biến chỗ ngồi kia đều thành giường vàng và hỏi:
“Nay ông có thấy mình ngồi ở chỗ ngồi nào không?”
(Người giữ ngục)* thấy mình đang ngồi trên giường vàng, hoảng hồn quá, liền xuống giường, cúi đầu:
“Cúi xin tôn giả tha thứ và mau giải phép giùm cho, nếu vua nghe tôi ngồi trên giường vàng thì chắc sẽ bị trọng tội!”
Tất-lăng-già nói:
“Thả người giúp việc* ra, sau đó mới giải phép cho ngươi.”
Quan giữ ngục nói:
“Việc này (quyền)* không phải do tôi.”
Hỏi: “Do ai?”
Trả lời: “Do vua.”
Tất-lăng-già liền giải phép, rồi bay đến chỗ vua, đứng trong hư không. Lúc ấy, vua đang ở trên lầu cao thấy, liền làm lễ, thưa:
“Đại đức vì việc gì đến?”
 Trả lời:
“Người giúp việc* đang bị giam ở trong ngục, nên tôi đến đây, xin vì tôi mà thả ra.”
Nhà vua nói:
“Người kia có được kho tàng bảo vật, nếu chỉ cho trẫm thì mới được thả ra.”
Tất-lăng-già nói:
“Tôi kết cỏ làm thành, chứ không phải của kho tàng đâu.”
Vua nói: “Kết cỏ mà thành vàng là điều không thể có!”
Khi ấy, Tất-lăng-già-bà-ta dùng cây gậy gõ vào trụ cột lầu, nhà lầu liền biến thành lầu vàng, và hỏi:
“Lầu cao của bệ hạ dùng vật gì để xây dựng?”
Vua thấy vậy, rất vui mừng, liền ra lệnh thả người đó.
Tất-lăng-già lần lượt bốn lần hiện thần túc như vậy. Lúc ấy, mọi người dân đều nghe biết thần biến, nên sanh lòng tin ưa đối với Phật pháp và Thánh chúng. Họ cúng dường Tăng, nào Đát-bát-na,106 thức
 

106 Đát-bát-na 怛鉢那: Skṭ tarpaṇa, Pāli. tappaṇa, là bánh, miến, cháo, tức những thức ăn làm bằng bột gạo.
 
ăn trước, thức ăn sau, nước uống phi thời, dụng cụ dùng để tắm rửa, dầu thoa mình, dầu thoa chân và dầu thắp đèn.
Bấy giờ chúng Tăng nhận được nhiều thứ như bơ trong, bơ tươi, dầu, mật, đường mía,107 ăn không hết, dồn chứa, cất giữ, để rỉ chảy khắp nơi, nhơ nhớp y phục, giường chiếu, ngọa cụ. Các cư sĩ thấy vậy, hỏi:
“Vật này là của ai?”
Có người nói:
“Đó là đồ tích trữ của Sa-môn Thích tử.”
Các cư sĩ nói:
“Sa-môn Thích tử tự nói tiết chế ăn uống, mà tích trử như vầy thì tự do ăn uống. Những người này vì cầu giải thoát, xa lìa sanh, lão, tử, mà nay chỉ cầu mỹ vị như vậy, thì không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Các Tỳ-kheo thưa: [31c01] “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay không cho phép ăn đồ ăn cách đêm, như bơ, dầu, mật, đường mía. Người nào phạm, Đột-kiết-la.”
Khi ấy, có số đông Tỳ-kheo bệnh, không thể có tịnh nhân108 đi nhận (đồ ăn thức uống)* hằng ngày, cũng không có tiền để mua, lại không
 

107 Sinh tô, thục tô, du, mật, thạch mật 生酥熟酥油蜜石蜜. Pāli, nt. sappi navanītaṃ telaṃ madhu phāṇitaṃ, bơ trong, bơ tươi, dầu ăn, mật, mật mía.
108 Tịnh nhân 淨 人: Pāli. ārāmika, người phục vụ, giúp việc trong chùa.
 
/288
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »