Đức Phật khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen ngợi người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, chứa bát dư cho đến mười ngày, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Khi nhận được hai bát thì nên hỏi Hòa thượng, A-xà-lê: “Hai bát này, cái nào tốt hơn?”.
Nếu Hòa thượng, A-xà-lê không khéo phân biệt thì nên dùng mỗi cái năm ngày, để biết cái nào tốt hơn thì thọ trì, cái không như ý thì cho người. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
XXI. NGỌA CỤ BẰNG TƠ TẰM148
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại ấp A-trà-bệ,149 khi ấy, các Tỳ-kheo tự thân làm ngọa cụ150 bằng kiều-xa-da,151 tự làm, cũng dạy người làm; tự gánh kén cũng sai người gánh kén; tự ươm,152 khiến người ươm. Các cư sĩ thấy, nói: “Chúng ta ươm (nấu) kén, Tỳ-kheo cũng vậy. Sa-môn Thích tử cùng với ta nào khác gì? Những người này thường nói từ nhẫn chúng sinh, nhưng nay lại tự mình ươm kén, không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
148 Tứ phần 7, tr. 613c25, Tăng-kỳ 9, tr. 307c20, Thập tụng 7, tr. 47c10, Căn bản 20, tr. 735c6: ni-tát-kỳ 11. Pāli, Nissaggiya 11, kosiya, Vin. iii. 223.
149 Ấp A-trà-bệ: xem cht. 3, Tăng tàn 6.
150 Ngọa cụ 臥具: Pāli, santhata, đồ trải lót: Chiếu, thảm, hay miếng vải. Các bộ khác: Phu cụ 敷具 (xem cht. 2, Ni-tát-kỳ 4).
151 Kiều-xa-da 憍賒耶: Pāli. Kosiya, tơ lụa.
152 Hán: Chử 煮: Nấu, thổi.