Không phạm: Có lợp, đều có sự ngăn cách, hoặc bệnh, không thể dời đi được, hoặc có các nạn, hoặc thường ngồi không nằm, hoặc người kia nằm Tỳ-kheo ngồi, hay người kia ngồi Tỳ-kheo nằm.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.
VIII. NÓI PHÁP THƯỢNG NHÂN50
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại Tỳ-xá-ly.51 Bấy giờ, mất mùa, khất thực khó được. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo [40c01], mỗi vị tùy theo chỗ quen biết nên đến đó an cư. Có các Tỳ-kheo an cư ở bên sông Bà-cầu-mạt,52 bằng mọi nhân duyên, như trong giới tự xưng mình được pháp thượng nhân đã nói, cho đến Phật hỏi:
“Các ngươi lại khen ngợi nhau là thật hay là hư?”
Thưa: “Có thật, có hư.”
Đức Phật dạy:
“Hư thì phạm Ba-la-di.”
Bằng mọi cách quở trách các Tỳ-kheo có thật chứng rằng: “Tại sao các ngươi lại hướng đến người chưa thọ giới Cụ túc nói mình đắc pháp hơn người?”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
50 Tăng-kỳ 13, tr. 337a13, Thập tụng 10, tr. 71b19: Ba-dật-đề 7. Tứ phần 11, tr.639c14, Căn bản 27, tr. 773c14: Ba-dật-đề 8. Pāli, Pāc. 8. Bhūta-rocanasikkhā. Tham chiếu Ch.i, Ba-la-di 4.
51 Tăng-kỳ 13, tr. 337a13: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國). Tứ phần 11, tr. 639c14 Tỳ-xá-ly毘舍離, Thập tụng 10, tr. 71b19: Duy-da-ly quốc 維耶離國. Căn bản 27, tr. 773c15: Quảng Nghiêm thành 廣嚴城.
52 Tứ phần 11, tr. 639c15 Bà-cầu viên 婆求園; Thập tụng 10, tr. 71b26 Bà-cầu-ma hà biên 婆求摩河邊, bên sông Bà-cầu-ma; Căn bản 27, tr. 773c16 Thắng Tuệ hà biên 勝慧河邊, bên sông Thắng Tuệ.