Trả lời:
“Đức Phật cho phép Yết-ma lìa y, cho nên chúng tôi thường Yết-ma lìa y để ngủ đêm, cũng Yết-ma lìa cả ba y.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ đức Phật trình bày sự việc lên Ngài. Đức Phật dạy:
“Các người không nên thường Yết-ma lìa y để ngủ đêm và Yết-ma lìa cả ba y. Đây là hai Yết-ma phi pháp. Tỳ-kheo và Tăng (phạm)* hai tội Đột-kiết-la. Vì Yết-ma lìa y để ngủ đêm này, mỗi y, một đêm đều phạm tội mất y. Nay cho phép Tỳ-kheo Yết-ma gởi y lại, tiền an cư 9 tháng, hậu an cư 8 tháng. Không được Yết-ma gởi y Tăng-già-lê,23 An-đà-hội24 mà cho phép Yết-ma Ưu-đa-la-tăng.25 Chỗ có nạn giặc cướp, trong ba y, y cắt rọc26 là hơn hết, cho phép tùy theo đó mà gởi. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
“Tỳ-kheo nào, ba y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, trong ba y, nếu lìa mỗi một y, ngủ quá một đêm, trừ Tăng Yết-ma, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Lìa y: Vườn, đồng giới khác giới;27 nhà, đồng giới khác giới; tinh xá của Tỳ-kheo-ni, [24b01] đồng giới khác giới; xóm làng, đồng giới
23 Tăng-già-lê 僧伽梨: Skt=Pāli. Saṅghātī, nghĩa là y hai lớp, loại y trùm kín thân thể.
24 An-đà-hội 安陀會: Skt. Antarvāsa, Pāli. Antaravāsaka, nghĩa là y trong hay y dưới.
25 Ưu-đa-la-tăng 優多羅僧: Hoặc gọi là Uất-đa-la-tăng 鬱多羅僧, Skt=Pāli. uttarāsaṅga, là y khoác vai. Hán dịch là Thượng y.
26 Hán: Cát tiệt y 割截衣. Pāli: chinnaka, vải được cắt thành từng miếng vuông như thửa ruộng, rồi may lại thành. Thường gọi là phước điền y.
27 Hán: Đồng giới, dị giới 同界異界; Tứ phần 6: Một giới… nhiều giới; Thập tụng 5: Một giới, biệt giới; Căn bản 17: Một thế phần, nhiều thế phần. Nghĩa là, mỗi nơi có một hay nhiều phạm vi phụ cận. Pāli: ekūpacāra, nānūpacra, tinh xá có một vùng phụ cận, hay nhiều vùng phụ cận.